- Tranh chấp gì? "QĐ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số I tỉnh H đối với Bùi Văn S, sinh ngày 24/02/2024; Nơi ĐKHKTT: xóm Chạo, xã C, huyện K, tỉnh H.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2025/QĐ-TA | K, ngày 16 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH H
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Tư Duy.
2. Thư ký phiên họp: Ông Bùi Mạnh Thuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H.
Ngày16 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2025/QĐ-TA ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với:
1. Họ và tên người bị đề nghị: Bùi Văn S, sinh ngày: 24/02/2004.
Nơi ĐKHKTT: xóm Chạo, xã C, huyện K, tỉnh H.
Chỗ ở hiện nay: xóm Chạo, xã C, huyện K, tỉnh H.
Số CCCD/CMND/Hộ chiếu: 017204004530; Ngày cấp: 11/8/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn S1, sinh năm 1970, con bà: Bùi Thị C, sinh năm 1980.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Người bị đề nghị Bùi Văn S hiện đang bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh H, có ý kiến đề nghị xin vắng mặt tại phiên họp.
2. Có sự tham gia của:
2.1. Đại diện cơ quan đề nghị - Công an xã C: Ông Bùi Văn Miển - Chức vụ: Cán bộ - Công an xã C (Theo văn bản ủy quyền số: 01/CAX ngày 31/3/2025).
2.2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K: Ông Bùi Tất Thắng - Kiểm sát viên.
2.3. Những người khác: Không có.
NHẬN THẤY:
Bùi Văn S là đối tượng nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng vào khoảng năm 2022, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hút vào cơ thể với tần xuất từ 02 đến 03 ngày trên một lần. Ngày 12/02/2025, Bùi Văn S tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, làm việc với Công an xã C, Bùi Văn S thừa nhận có sử dụng ma túy.
Ngày 12/02/2025 Công an xã C phối hợp với Trạm y tế xã C, huyện K tiến hành lấy mẫu xét nghiệm bằng que xét nghiệm nước tiểu đối với Bùi Văn S. Kết quả xét nghiệm Bùi Văn S dương tính với chất ma tuý loại Heroine.
Bùi Văn S là đối tượng đang bị áp dụng Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện. Do đó, UBND xã C và Công an xã C đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Bùi Văn S.
Sau khi lập hồ sơ, Công an xã C, huyện K có công văn số: 04/ĐN-CAX ngày 31/3/2025 đề nghị Toà án nhân dân huyện K xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số 1 tỉnh H và đã chuyển toàn bộ hồ sơ của người bị đề nghị Bùi Văn S tới Tòa án nhân dân huyện K.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn S theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đồng thời nêu quan điểm đã có đủ thủ tục và căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn S.
Đề nghị Tòa án nhân dân huyện K Căn cứ vào Điều 96, khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi năm 2020); Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an - Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao chấp nhận đề nghị của Công an xã C. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Văn S vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn S thấy, hồ sơ được lập đầy đủ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an - Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao.
Bùi Văn S là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2022, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng bằng hình thức hút vào cơ thể, hiện tại Bùi Văn S sử dụng ma túy từ 02 đến 03 ngày trên một lần. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện của Trạm y tế xã C ngày 12/02/2025 kết luận Bùi Văn S nghiện chất ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine. Như vậy Tòa có đủ căn cứ kết luận Bùi Văn S nghiện chất ma túy.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Bùi Văn S chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn.
Bùi Văn S là người nghiện ma túy đã bị UBND xã C ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện. Do vậy thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính bắt buộc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Bùi Văn S thấy: Bùi Văn S không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tự nguyện có mặt khi được triệu tập, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó Bùi Văn S được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của Bùi Văn S đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Do đó cần thiết phải đưa Bùi Văn S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ vào các tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp. Căn cứ vào ý kiến của cơ quan đề nghị trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên.
Căn cứ vào Điều 95, Điều 96; khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (Sửa đổi năm 2020); Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy; Điều 7, 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an - Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Từ các nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số I tỉnh H đối với Bùi Văn S, sinh ngày 24/02/2024; Nơi ĐKHKTT: xóm Chạo, xã C, huyện K, tỉnh H.
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày Bùi Văn S bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 12/02/2025.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện của người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này. Công an xã K có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an xã C, huyện K, tỉnh H; Cơ sở cai nghiện ma túy số I tỉnh H có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - CA xã C, huyện K; - VKSND huyện K; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh HB; - UBND xã C; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Tư Duy |