- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "VHNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ tại UBND xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2024/QĐST-VHNGĐ | Ứng hòa, ngày 26 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v: Hủy việc kết hôn trái pháp luật và xác lập quan hệ hôn nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việt dân sự :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 333/2024/TLST- VHNGĐ ngày 25/10/2024 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và xác lập quan hệ hôn nhân”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số: 06/2024/QĐST-VHNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
*Người yêu cầu giải quyết: Chị Nguyễn Thị T – sinh ngày 10/12/1991 (có mặt)
HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ UBND xã H, huyện Ứ, TP .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C – Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: xã H, huyện Ứ, TP .
+ Anh Nguyễn Hà Đ – sinh ngày 07/6/ 1987 (có mặt)
HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu, chị Nguyễn Thị T trình bày: chị là Nguyễn Thị T – sinh ngày 10/12/1991. Năm 2008, chị quen biết anh Nguyễn Hà Đ – sinh ngày 07/6/1987, nguyên quán thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Sau thời gian tìm hiểu thì hai anh chị quyết định cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Do chị chưa đủ tuổi nên khi làm thủ tục đăng ký kết hôn chị đã khai sinh năm 1990 để vừa đủ tuổi. Vì vậy, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 76 quyển số 01 ngày 10/10/2008 của UBND xã H thể hiện tên vợ là Nguyễn Thị T – sinh ngày 10/12/1990. Ngoài ra, tại Giấy đăng ký kết hôn có đánh nhầm ngày sinh của chồng chị thành ngày 10/6 trong khi đó anh Nguyễn Hà Đ – sinh ngày 07/6. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc và sinh được 03 con là Nguyễn Hà Trung H – sinh ngày 30/4/2010, Nguyễn Thị Quỳnh A – sinh ngày 23/4/2013 và Nguyễn Hà Minh K – sinh ngày 05/10/2023. Nay anh chị nhận thấy việc đăng ký kết hôn năm 2008 như vậy là vi phạm quy định của pháp luật và cũng bị ảnh hưởng các thủ tục hành chính khác nên chị đề nghị huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Đ; đồng thời đề nghị Toà xác lập quan hệ hôn nhân cho anh chị khi đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hà Đ trình bày: Đúng như những gì chị T trình bày. Năm 2008, do chị T chưa đủ tuổi nên đã khai sinh năm 1990 để làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, xong thực tế chị Thuỷ sinh ngày 10/12/1991. Ngoài ra, Giấy đăng ký kết hôn ghi sai ngày sinh của anh; anh sinh ngày 07/6 nhưng lại ghi ngày 10/6. Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hai vợ chồng nên anh đồng ý Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị T theo Giấy chứng nhận kết hôn năm 2008 của UBND xã H. Xong vợ chồng anh chị đang sống hạnh phúc có với nhau 03 con nên bà đề nghị Tòa xác lập quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã H cung cấp: Qua tra cứu hồ sơ đăng ký kết hôn lưu trữ tại UBND xã H thấy: tại sổ đăng ký kết hôn quyển số 01 mở ngày 01/01/2007 tại trang số 1999 thể hiện: số đăng ký kết hôn 76: Họ và tên chồng: Nguyễn Hà Đ ngày tháng năm sinh: 1987, H1 và tên vợ: Nguyễn Thị T, ngày tháng năm sinh: 10/12/1990; ngày đăng ký: 10/10/2008; về tờ khai và hồ sơ đăng ký kết hôn của anh Nguyễn Hà Đ và chị Nguyễn Thị T: hiện tại UBND xã không còn lưu trữ. Nay chị T và anh Đ có đơn huỷ kết hôn trái pháp luật và xác lập quan hệ hôn nhân, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện UBND xã H có đơn xin vắng mặt; chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu và không xuất trình thêm bất kỳ tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Trình tự từ khi thụ lý việc dân sự, về quan hệ pháp luật, quá trình thu thập chứng cứ, về thời gian, thời hạn tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/10/2008 của UBND xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T – sinh ngày 10/12/1991 và anh Nguyễn Hà Đ – sinh ngày 07/6/1987 kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T đã nộp đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ theo quy định - căn cứ vào khoản 1 và khoản 11 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc hôn nhân và gia đình này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Trong quá trình xét đơn yêu cầu, Tòa đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, quyết định mở phiên họp, giải thích quyền và nghĩa vụ cho đại diện theo pháp luật của UBND xã H; xong tại phiên họp hôm nay, người đại diện cho UBND xã H có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 367 BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Về nội dung:
2.1. Xét yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ như: giấy khai sinh, Căn cước công dân của chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Hà Đ và các giấy khai sinh của con anh chị thể hiện chị Nguyễn Thị T - sinh ngày 10/12/1991 và anh Nguyễn Hà Đ – sinh ngày 07/6/1987. Đồng thời tại đơn xin vắng mặt của đại diện UBND xã H cũng thể hiện chỉ tại thôn Đ, xã H chỉ có chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ có quan hệ hôn nhân.
Tại Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/10/2008 của UBND xã H thể hiện họ và tên chồng: Nguyễn Hà Đ ngày tháng năm sinh: 10/6/1987, H1 và tên vợ: Nguyễn Thị T, ngày tháng năm sinh: 10/12/1990 không đúng năm sinh thực của chị T và ngày sinh thực của anh Đ. Việc đăng ký kết hôn đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vì tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Nguyễn Hà Đ - sinh năm 1987(đã đủ tuổi kết hôn); chị Nguyễn Thị T - sinh ngày 10/12/1991, chị T được 16 tuổi 10 tháng (chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn)
Như vậy có căn cứ xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 10/10/2008 chị T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn; việc UBND xã H đã đăng ký kết hôn cho chị T và anh Đ là trái với quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Nay, chị T có đơn yêu cầu Tòa hủy kết hôn trái pháp luật là có căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Xét yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ đều xác định anh chị đã có đủ điều kiện kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và có với nhau 03 con chung, tài sản chung nhưng vì ngày tháng năm sinh của chị T không trùng khớp nhau nên đã ảnh hưởng đến việc giao dịch dân sự. Hai anh chị đều thống nhất đề nghị Tòa công nhận quan hệ hôn nhân cho anh chị kể từ thời điểm chị T đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Yêu cầu công nhận hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, công nhận quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật từ ngày 11/12/2008.
Về con chung, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ đều không yêu cầu đề nghị.
Đối với thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 việc UBND xã H thực hiện đăng ký kết hôn cho chị T và anh Đ như đã nhận định nêu trên là thiếu trách nhiệm khi đã không kiểm tra thông tin cá nhân của công dân khi đến làm thủ tục đăng ký kết hôn. Vì vậy, UBND xã H cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật.
Về lệ phí, quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T không phải nộp tiền lệ phí yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật. Chị Nguyễn Thị T phải nộp tiền lệ phí yêu cầu xác lập quan hệ hôn nhân theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371, 372 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000); khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014);
Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149, Điều 244, Điều 361, Điều 362, Điều 366, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao và Bộ Tư pháp
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ tại UBND xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.
2. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ đối với yêu cầu xác lập quan hệ hôn nhân:
Công nhận quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị T - sinh ngày 10/12/1991 và anh Nguyễn Hà Đ - sinh ngày 07/6/1987 đều trú tại thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội kể từ thời điểm chị Nguyễn Thị T đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 11/12/2008.
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hà Đ có quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
3. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp lệ phí đối với yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012001 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Chi cục THADS huyện Ứng Hoà; - Các đương sự; - UBND xã Hòa Nam - Lưu hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Thị Bích Hằng |