vanban.org

Quyết định 08/2024/QĐ-TA

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/03/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên để thi hành biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Đức T.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hứa Đức T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên để thi hành biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2024/QĐ-TAĐịnh Hoá, ngày 11 tháng 03 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Hồng Khánh

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thành Huế.

Ngày 11/03/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2024/QĐ-TA ngày 23/02/2024 đối với:

Họ và tên: Hứa Đức T

Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 02/11/1977;

Dân tộc: Tày;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 5/12;

Nơi cư trú: Xóm CĐ, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Tự do.

Tiến án, tiền sự : Không có.

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân Đ, tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng Quyết định số 11/2018/QĐ-TA, ngày 30/7/2018, chấp hành xong ngày 24/02/2020.

Con ông Hứa Đức Các (đã chết) và bà Nông Thị Lịch.

(Có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hứa Đức Hùng – Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

3. Đại diện UBND xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên: Ông Đặng Quang Tùng – Công an xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN THẤY:

Hứa Đức T là người nghiện ma túy từ năm 2010, loại ma túy thường sử dụng là Heroine và hình thức sử dụng là hít.

Tại buổi làm việc ngày 25/01/2024 với Công an xã TL, huyện Đ, T khai nhận đã sử dụng ma túy ngày 22/01/2024, Công an xã TL, huyện Đ đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với T. Kết quả: Dương tính. Công an xã TL, huyện Đ đã đề nghị Bệnh viện đa khoa huyện Đ xác định trình trạng nghiện đối với Hứa Đức T. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 26/01/2024 của của Bệnh viện đa khoa huyện Đ xác định Hứa Đức T là: Có nghiện Morphine..

Ngày 30/01/2024, Công an xã TL, huyện Đ mời T đến làm việc, đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho T và yêu cầu T trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện phải đến UBND xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hết thời hạn nêu trên, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên ngày 06/02/2024, Ủy ban nhân dân xã TL đã lập biên bản và xác định Hứa Đức T đã có vi phạm không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Đức T.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xác định việc lập hồ sơ đối với T là đúng đối tượng, đúng quy định và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

Ý kiến của đại diện của UBND xã TL: Hứa Đức T là người nghiện ma túy. Ngày 22/01/2024, Hứa Đức T có hành vi sử dụng ma túy trái phép, Công an xã TL lập biên bản làm việc đối với T, đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu T trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện phải đến UBND xã TL, huyện Đ đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hết thời hạn nêu trên, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến: Cơ quan lập hồ sơ, Cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng chống ma túy và các văn bản hướng dẫn. Việc lập hồ sơ đưa Hứa Đức T đi cai nghiện bắt buộc là đúng đối tượng, đủ điều kiện. Từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Quá trình lập hồ sơ đến khi mở phiên họp, Tòa án đã tống đạt các văn bản cho T theo quy định. Đề nghị áp dụng: Khoản 2 Điều 3; Điều 5; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; 105; 107 và 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; Điều 22; 30 và 31 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Hứa Đức T, thời hạn 18 tháng.

Người bị đề nghị Hứa Đức T trình bày: T đã được Công an xã TL thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện phải đến UBND xã TL, huyện Đ đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hết thời hạn nêu trên, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện là đúng, T xin được đi cai nghiện với thời gian thấp nhất.

XÉT THẤY:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát thể hiện:

Hứa Đức T, sinh ngày 02/11/1977 có nơi cư trú ổn định tại xóm CĐ, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là người nghiện ma túy từ năm 2010. Tại biên bản làm việc ngày 25/01/2024 với Công an xã TL, huyện Đ, T đã thừa nhận vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, Công an xã TL, huyện Đ đã yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện phải đến UBND xã TL đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hết thời hạn nêu trên, Hứa Đức T không đến đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Vì vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Đức T là đúng đối tượng, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy. Sau khi lập hồ sơ, cơ quan lập hồ sơ đã thông báo cho Hứa Đức T về việc lập hồ sơ, T đã được đọc hồ sơ; việc chuyển hồ sơ, gửi cho người có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng quy định của Luật phòng chống ma túy.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định Hứa Đức T là người nghiện chất ma túy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Hứa Đức T vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên là cần thiết, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Hứa Đức T thấy: Trong quá trình lập hồ sơ T đã "Tự nguyện khai báo", nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, Hứa Đức T không phải chịu 01 tình tiết tăng nặng nào.

Xét nhân thân của anh Hứa Đức T thấy: Bản thân T có nhân thân xấu, T đã bị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, T đã chấp hành xong nhưng T không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của T là xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng thời gian cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T mới đảm bảo để T cai nghiện được ma túy.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 3; Điều 5; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; 105; 107 và 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; Điều 20; 23; 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên để thi hành biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Hứa Đức T.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định này trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị trong hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ