vanban.org

Quyết định 08/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 19/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Hứa Văn N: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1952.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hứa Văn N được miễn nộp tiền lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Quyền kháng cáo, kháng nghị: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Hứa Văn N: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1952.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 08/2023/QĐST-VDS
Long Xuyên, ngày 19 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự, gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoa

Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên họp: Ông Võ Ngọc Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 14/2022/TLST-VDS, ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 08/2023/QĐMPH-ST, ngày 03 tháng 7 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hứa Văn N, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Phường MQ, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1952. Nơi cư trú cuối cùng: Phường MQ, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích, người yêu cầu ông Hứa Văn N trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ sống chung với nhau vào năm 1975, không có đăng ký kết hôn. Ông và bà Đ có 03 con chung gồm: Hứa Hoàng Ngọc N1, sinh năm 1976; Hứa Hoàng Ngọc H, sinh năm 1978 và Hứa Hoàng T, sinh năm 1981. Quá trình sống chung ông bà xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, năm 2013 ông và bà Đ sống ly thân và mất thông tin nhau từ đó, bà Đ không liên lạc về gia đình, ông tìm kiếm bà Đ bằng nhiều hình thức nhưng không có tin tức.

Để bổ sung hồ sơ ly hôn của ông đối với bà Đ, ông yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, ngoài ra ông không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ được thông báo tìm kiếm theo quy định nhưng vẫn không có tin tức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, đương sự:

Thẩm phán, Thư ký, đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải quyết phiên họp sơ thẩm.

Đề xuất việc giải quyết như sau: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của ông Hứa Văn N đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

Về tố tụng: Ông Hứa Văn N yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ. Bà Đ có nơi cư trú cuối cùng tại phường MQ, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ sống chung vào năm 1975, có 03 con chung gồm Hứa Hoàng Ngọc N1, Hứa Hoàng Ngọc H và Hứa Hoàng T. Quá trình sống chung ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đến năm 2013 ông và bà Đ sống ly thân và mất thông tin nhau từ đó. Ông N tìm kiếm bà Đ bằng nhiều biện pháp và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức. Ông N yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Đ để ông bổ sung hồ sơ xin ly hôn đối với bà Đ, ông không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác.

Từ những cơ sở nhận định trên, xét thấy, sau khi thụ lý việc dân sự yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Đ theo đơn yêu cầu của ông N, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 07/2022/QĐ-TA, ngày 23 tháng 11 năm 2022; Công văn số: 573/CV-TA, ngày 23/11/2022 về việc đề nghị đăng thông tin trên Cổng Thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; Cổng Thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; Cổng Thông tin điện tử tỉnh An Giang. Theo đó, Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng nhắn tin tìm kiếm bà Nguyễn Thị Ngọc Đ theo Quyết định số 07/2022/QĐ-TA, thời gian phát vào lúc 17h30 - 18h các ngày 29, 30, 31 tháng 12 năm 2022; Báo Công lý thông báo nhắn tin tìm kiếm bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trên ba số báo liên tiếp, gộp 9+10, 11 và 12 ra ngày 01, 08 và 10/02/2023. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên, nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà Nguyễn Thị Ngọc Đ còn sống hay đã chết.

Do đó, việc ông Hứa Văn N yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự 2015, nên được chấp nhận. Các phần khác, ông N không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về lệ phí: Ông N là người cao tuổi có đơn xin miễn tiền lệ phí, được Tòa án chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 67; các Điều 361, 362, 363, 365, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của ông Hứa Văn N: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1952. Nơi cư trú cuối cùng: Phường MQ, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hứa Văn N được miễn nộp tiền lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông Hứa Văn N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ