- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P,
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2023/QĐST-HNGĐ | Tp Chí Linh, ngày 13 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Mai Hương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Lệ – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc yêu cầu xác định cha cho con theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1985.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: khu dân cư T 2, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đoàn Quốc T, sinh năm 1949 và bà Nghiêm Thị T, sinh năm 1951.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại: khu dân cư T2 , phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và bản tự khai, chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị và anh Đoàn Anh D, sinh năm 1980; ĐKHKTT: khu dân cư T2, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, con ông Đoàn Quốc T và bà Nghiêm Thị T được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn ngày 11/12/2009 tại UBND thị trấn S, huyện C (nay là phường S, thành phố C), tỉnh Hải Dương. Trong quá trình chung sống, chị và anh Đoàn Anh D đã tiến hành thụ thai theo phương pháp nhân tạo và có lưu trữ phôi tại công ty cổ phần bệnh viện đa khoa Mỹ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 08/4/2017, anh D qua đời do tai nạn giao thông và được gia đình đăng ký khai tử tại UBND phường S. Đến ngày 29/11/2017, chị sinh cháu Đoàn Xuân B và cháu B đã được đăng ký khai sinh theo quy định. Ngày 14/03/2023, chị sinh cháu thứ hai, dự định đặt tên là Đoàn Minh V bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo từ phôi của vợ chồng chị đã lưu trữ tại bệnh viện đa khoa Mỹ Đức trước đây. Sau khi sinh cháu V, chị đã đến UBND phường S để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu nhưng không được tiếp nhận. Sau đó, chị đã làm thủ tục trưng cầu giám định ADN của cháu Vương với ông nội của cháu là ông Đoàn Quốc T tại Công ty Cổ phần công nghệ y tế Vietcare và kết quả xét nghiệm AND kết luận: ông Đoàn Quốc T có quan hệ huyết thống theo dòng Y với người có tên dự kiến Đoàn Minh V. Vì vậy, chị làm đơn đề nghị Toà án xác định anh Đoàn Anh D là cha của cháu bé do chị sinh ra vào lúc 10 giờ 55 phút ngày 14/3/2023 tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, giới tính Nam, theo giấy chứng sinh số 231031, quyển số 11, ngày 14/3/2023 của Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, dự định đặt tên Đoàn Minh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Quốc T và bà Nghiêm Thị T trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của anh Đoàn Anh D, sinh năm 1980 và là bố mẹ chồng của chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1985. Chị Nguyễn Thị P kết hôn với anh Đoàn Anh D vào ngày 11/12/2009 có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Trong quá trình chung sống, do hiếm muộn nên anh D và chị P đã tiến hành thụ thai theo phương pháp nhân tạo và có lưu trữ phôi tại công ty cổ phần bệnh viện đa khoa Mỹ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 08/4/2017, anh D mất do tai nạn giao thông. Đến ngày 29/11/2017, chị P sinh cháu Đoàn Xuân B và cháu B đã được đăng ký khai sinh theo quy định. Sau đó, chị P tiếp tục thụ tinh nhân tạo lần thứ 2 với phôi cũ đã lưu trữ tại bệnh viện. Ngày 14/03/2023, chị P sinh cháu thứ hai, dự định đặt tên là Đoàn Minh V. Sau khi sinh cháu V, gia đình ông bà và chị P đã đến UBND phường S để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu nhưng không được tiếp nhận. Ông bà khẳng định cháu V là con của anh D và chị P, được thụ tinh bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo từ phôi của anh chị đã lưu trữ trong lúc anh D còn sống. Tại kết quả xét nghiệm ADN của Công ty Cổ phần công nghệ y tế Vietcare cũng kết luận: ông Đoàn Quốc T có quan hệ huyết thống theo dòng Y với người có tên dự kiến Đoàn Minh V. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu V, ông bà nhất trí với yêu cầu của chị P đề nghị Tòa án xác định anh Đoàn Anh D là cha của cháu Đoàn Minh V.
Tại phiên họp: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên họp chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: tại khoản 10 Điều 29, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị P xác định anh Đoàn Anh D là cha của cháu dự kiến đặt tên là Đoàn Minh V. Về lệ phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH;
[1] Về quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị P là mẹ đẻ cháu bé do chị sinh ra vào lúc 10 giờ 55 phút ngày 14/3/2023 tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, giới tính Nam, theo giấy chứng sinh số 231031, quyển số 11, ngày 14/3/2023 của Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí nên chị có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha cho con theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Người được yêu cầu xác định là cha cháu bé là anh Đoàn Anh D đã chết nên yêu cầu của chị Phượng thuộc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị P hiện đang cư trú tại khu dân cư T2, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương nên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị P và anh Đoàn Anh D kết hôn ngày 11/12/2009 và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện C (nay là phường S, thành phố C). Quá trình chung sống, chị P và anh D có tiến hành lưu trữ phôi đông lạnh tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức- IVFMD (thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 08/4/2017, anh D chết. Ngày 29/11/2017, chị P sinh cháu Đoàn Xuân B và đăng ký khai sinh cho cháu B theo quy định. Ngày 22/6/2022, chị P thực hiện việc cấy phôi thai và đến ngày 14/3/2023, chị P sinh con tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, dự định đặt tên con là Đoàn Minh V. Ngày 29/3/2023 chị P có đơn yêu cầu xét nghiệm AND của cháu V với ông Đoàn Quốc T là bố đẻ của anh D để xác định quan hệ huyết thống tại Công ty CP Công nghệ y tế VIETCARE. Tại bản kết quả xét nghiệm AND số 2050.VCJ/23/AND ngày 03/4/2023, Công ty CP Công nghệ y tế VIETCARE kết luận: ĐOÀN QUỐC T có quan hệ huyết thống theo dòng Y với người có tên dự kiến ĐOÀN MINH V.
Ngày 17/8/2023, Công ty Cổ phần Công nghệ Y tế Vietcare có văn bản trả lời Tòa án xác định: Công ty đã trực tiếp thu mẫu, lăn tay, chụp hình, thực hiện xét nghiệm theo đơn yêu cầu ngày 29/3/2023 của bà Nguyễn Thị P và ban hành kết quả xét nghiệm AND số 2050.VCJ/23/AND ngày 03/4/2023 với nội dung kết luận ĐOÀN QUỐC T có quan hệ huyết thống theo dòng Y với người có tên dự kiến ĐOÀN MINH V, đồng thời chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu này. Như vậy, yêu cầu của chị P về việc xác định anh Đoàn Anh D là cha của cháu Đoàn Minh V là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị P không đề nghị miễn lệ phí và tự nguyện chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, do đó chấp nhận sự tự nguyện của chị P.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 90, khoản 2 Điều 101, điểm a khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 35, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P,
1. Xác định anh Đoàn Anh D, sinh năm 1980, chết ngày 08/4/2017 (nơi cư trú trước khi chết: khu dân cư T2, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương) là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Đoàn Minh V do chị Nguyễn Thị P sinh ra vào lúc 10 giờ 55 phút ngày 14/3/2023 tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, giới tính Nam, theo giấy chứng sinh số 231031, quyển số 11, ngày 14/3/2023 của Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí.
2. Chị Nguyễn Thị P tự nguyện chịu 300.000đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2022/0000530 ngày 14/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, chị P đã thi hành xong.
Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định hoặc kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc quyết định này được thông báo, niêm yết đối với trường hợp vắng mặt tại phiên họp. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND TP. Chí Linh, Hải Dương; - Lưu: Tòa án, hồ sơ việc dân sự; | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Hà |