- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Đinh Thị Hồng Đ - khó khăn trong nhận thức điều khiển hành vi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2023/QĐST-DS | Tp Hải Dương, ngày 07 tháng 7 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Xuân Hiền
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Cao Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 41/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 26/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T- sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Số nhà 104A P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981; địa chỉ cuối cùng: Thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt lần thứ 2).
+ Ông Đinh Gia L – sinh năm 1958; địa chỉ cư trú: Số nhà 104A P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Gia L: Bà Nguyễn Thị T- sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Số nhà 104A P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Nguyễn Thị T và ông Đinh Gia L là vợ chồng, ông L và bà T sinh được 03 người con gồm Đinh Thị Hồng Đ, sinh ngày 25/11/1984; Đinh Hồng V, sinh ngày 24/7/1988 và Đinh Thị Hương T, sinh ngày 05/4/2001. Bản thân gia đình ông L, bà T từ trước đến nay không có ai mắc bệnh về T thần. Tất cả các con chung do vợ chồng ông L, bà T sinh ra từ nhỏ đến lớn đều khỏe mạnh bình thường. Tuy nhiên, con chung là chị Đinh Thị Hồng Đ vào năm 2000 khi đang học lớp 10 trường THPT chuyên Nguyễn Trãi, thành phố H bắt đầu xuất hiện những cơn đau đầu, mất ngủ. Vì nghĩ do học hành căng thẳng nên gia đình không đưa chị Đ đi khám. Giữa năm 2001 khi đang học lớp 11, do tình trạng đau đầu, mất ngủ không giảm nên chị Đ phải bỏ không theo học nữa nên tình trạng bệnh có thuyên giảm. Tháng 7/2003, chị Đ kết hôn với anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1981 ở Thôn D, xã T, huyện T(nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương nhưng vợ chồng Đ – T1 chỉ chung sống với nhau được 01 tháng thì anh T1 bảo đi làm thợ xây, phải đi theo công trình. Lúc đầu khi mới đi anh T1 có liên lạc về cho chị Đ cũng như gia đình chị Đ nhưng cũng chỉ được thời gian đầu, sau đó không có tin tức gì, cho đến nay gia đình anh T1 không còn ai ở thôn D và cũng không ai biết anh T1 hiện nay ở đâu, làm gì. Sau khi anh T1 bỏ đi thì chị Đinh Thị Hồng Đ bệnh ngày càng nặng, thường xuyên đi lang thang tìm chồng, hoang tưởng được yêu, hoang tưởng bị hại, có ý định muốn chết. Do vậy, gia đình có đưa đi khám và điều trị tại Bệnh viện T thần Hải Dương từ ngày 07/6/2007 đến ngày 05/9/2007 với chẩn đoán bị T thần phân liệt thể Paranoid (F20.0). Từ đó đến nay, gia đình không đưa đi khám ở đâu nữa mà nhận cấp phát thuốc điều trị T thần tại cộng đồng (Trạm y tế phường P) cho đến nay.
Nhằm đảm bảo quyền lợi dân sự của chị Đinh Thị Hồng Đ theo quy định của pháp luật trong khi chồng chị Đ là anh Nguyễn Văn T1 không biết ở đâu. Bà Nguyễn Thị T là mẹ chị Đ sau khi thống nhất và được ông Đinh Gia L ủy quyền, bà T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hồng Đ là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp nếu chị Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì yêu cầu Tòa án chỉ định bà Nguyễn Thị T là người giám hộ cho chị Đinh Thị Hồng Đ.
Tại phiên họp,
Bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu, vẫn nhất trí là người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Gia L. Bà T đề nghị Tòa án tuyên bố con gái Đinh Thị Hồng Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Kết luận giám định của Viện pháp y T thần Trung ương và chỉ định bà là người đại diện, giám hộ cho chị Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc T1 theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T tuyên bố chị Đinh Thị Hồng Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đồng thời chỉ định bà Nguyễn Thị T là người đại diện, giám hộ cho chị Đinh Thị Hồng Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 đã được cấp, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố H mở phiên họp sơ thẩm vắng mặt anh T1 để giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là phù hợp quy định của pháp luật.
Về xác định nội dung yêu cầu phải giải quyết:
Người yêu cầu bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố con gái là chị Đinh Thị Hồng Đ là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Tòa án nhân dân thành phố H đã thụ lý yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là phù hợp với quy định tại Điều 376 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi biết nội dung kết luận giám định, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hồng Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên yêu cầu phải giải quyết là tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; đồng thời chỉ định người giám hộ cho chị Đinh Thị Hồng Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về căn cứ chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu:
Tại Kết luận giám định sức khỏe T thần theo trưng cầu số 100/KLGĐ ngày 31/5/2023 của Viện pháp y T thần Trung ương kết luận: Tại thời điểm giám định, đối tượng Đinh Thị Hồng Đ bị bệnh T thần phân liệt thể Paranoid. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.0. Bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Như vậy, lời trình bày của bà Nguyễn Thị T phù hợp với Kết luận giám định sức khỏe T thần của Viện pháp y T thần Trung ương, phù hợp với tình trạng thực tế của chị Đinh Thị Hồng Đ tại thời điểm giám định nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị Hồng Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cần được chấp nhận.
Do chồng chị Đinh Thị Hồng Đ hiện không biết ở đâu, bố đẻ chị Đinh Thị Hồng Đ là ông Đinh Gia L đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T nên yêu cầu của bà T về việc chỉ định bà là người giám hộ cho chị Đinh Thị Hồng Đ cũng cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí giám định:
Bà Nguyễn Thị T là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật; bà Nguyễn Thị T tự nguyện chi trả toàn bộ chi phí giám định (đã thanh toán xong) và không có đề nghị gì về chi phí giám định nên không đặt ra giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 367, 369, 370 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 23, 46, 47, 48, 49, 54, 57, 58, 59 và Điều 136 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị T.
1. Tuyên bố: Chị Đinh Thị Hồng Đ, sinh ngày 25/11/1984, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 06/8/2022; địa chỉ: Số nhà 104A P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Chỉ định bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/9/2022; địa chỉ: Số nhà 104A P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người giám hộ cho chị Đinh Thị Hồng Đ. Bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ, có quyền, có trách nhiệm của người giám hộ theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị T là người đại diện theo pháp luật cho chị Đinh Thị Hồng Đ, được nhân danh chị Đinh Thị Hồng Đ và vì lợi ích của chị Đinh Thị Hồng Đ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự.
3. Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0002740 do Chi cục thi hành án dân sự thành phố H phát hành ngày 11 tháng 4 năm 2023 (bà T đã thực hiện xong việc nộp lệ phí).
4. Người yêu cầu bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo quyết định này (bao gồm cả kháng cáo thay người mà bà T là người đại diện theo ủy quyền) trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - VKSND TP Hải Dương; - Chi cục THADS TP Hải Dương; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Lê Xuân Hiền |