vanban.org

Quyết định 08/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "NINH VĂN B-NINH NGỌC Q"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH ÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2022/QĐST-VDSDầu Tiếng, ngày 21 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH ÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Long Tỵ.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Trương Quốc Khanh - Kiểm Sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2022/TLST-VDS ngày 20 tháng 01 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2022/QĐST-VDS ngày 13 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Ninh Văn B, sinh năm 1950; hộ khẩu thường trú: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ VIỆC DÂN SỰ:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự (Ông B) trình bày: Ông Ninh Văn B và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1954 là vợ chồng. Trong quá trình sống chung ông B, bà Ng sinh được 03 người con gồm Ninh Ngọc V, sinh năm 1979; Ninh Ngọc Q, sinh năm 1981; Ninh Thị Cẩm Th, sinh năm 1992. Tuy nhiên, Ninh Ngọc V đã có gia đình nên chuyển khẩu đi nơi khác từ năm 2012 cho đến nay. Hiện nay, trong sổ hộ khẩu gia đình còn có vợ chồng ông B, bà Ng, ông Q và bà Th sinh sống cùng nhau tại số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B. Ông B không biết gì lý do gì mà con ông Ninh Ngọc Q bỏ nhà đi khoảng từ tháng 11/2019 cho đến nay mà không nói gia đình đi đâu, làm gì. Mặc dù, gia đình đã tìm kiếm ông Ninh Ngọc Q ở nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Q.

Nay, gia đình ông B đang có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nhưng do ông Ninh Ngọc Q là thành viên trong hộ khẩu gia đình và cần có ý kiến của ông Q nhưng gia đình ông B không tìm kiếm ông Q được. Vì vậy, ngày 12/01/2022, ông B có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Ninh Ngọc Q, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B; nơi cư trú cuối cùng: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B. Ngoài ra, ông B không có yêu cầu gì khác.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp cho thấy yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh B nhận định:

Về Tố tụng:

Xét đơn yêu cầu của ông Ninh Văn B về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Ninh Ngọc Q. Đây là việc dân sự quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Ninh Ngọc Q, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình D; nơi cư trú cuối cùng: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh B theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Do ông Ninh Ngọc Q đã bỏ nhà đi biệt tích từ khoảng tháng 11/2019 nên ngày 12/01/2022, ông B làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Ninh Ngọc Q, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B; nơi cư trú cuối cùng: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2021/TBTA-VDS ngày 08/02/2022 và tiến hành làm thủ tục thông báo tìm kiếm ông Ninh Ngọc Q trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Truyền hình Việt Nam trong các ngày 10/02/2022; ngày 11/02/2022; ngày 12/02/2022; Báo Thanh Niên trong 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 11/02/2022; ngày 12/02/2022; ngày 13/02/2022. Tòa án cũng đã đăng nội dung quyết định này trên Cổng thông tin điện tử tỉnh B theo quy định. Đến nay đã quá thời gian 04 tháng, kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm đầu tiên vào ngày 10/02/2022 đến nay vẫn không có tin tức gì của ông Ninh Ngọc Q, ông Ninh Ngọc Q cũng không liên hệ, không có mặt tại Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh B để làm việc. Căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Do đó, ông Ninh Văn B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ninh Ngọc Q mất tích là có cơ sở chấp nhận.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp nên chấp chấp.

Về chi phí đăng tin: Ông Ninh Văn B đã tự thực hiện và thanh toán xong cho các cơ quan đăng tin nên không xem xét.

Về lệ phí Tòa án: Ông Ninh Văn B, sinh năm 1950 là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn lệ phí Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lê phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH;

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35; Điểm a Khoản 2 Điều 39; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Ninh Văn B đối với ông Ninh Ngọc Q.

Tuyên bố ông Ninh Ngọc Q, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B; nơi cư trú cuối cùng: Số 150/7, ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh B mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Ninh Văn B thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

3. hi phí ăng tin: Ông Ninh Văn B đã nộp xong.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.

Cỡ chữ