vanban.org

Quyết định 08/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

2- Tuyên bố bà Trần Bạch T1, sinh năm: 1970; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 1138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B đã mất tích. Ngày mất tích của bà Trần Bạch T1 là ngày 25/11/2018. 3- Chi phí đăng, phát tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Đã xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị T yêu cầu tuyên bố Trần Bạch T1 mất tích"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Số: 08/2022/QĐST-DS
Ngày: 26 - 5 - 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 79/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 14/2022/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1943. (có mặt).

Địa chỉ: 138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Bà Trần Bạch T1, sinh năm: 1970. (vắng mặt).

Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B.

2- Ông Trần Thanh L, sinh năm: 1968

3- Ông Trần Thanh D, sinh năm:

4- Bà Trần Kim D1, sinh năm: 1975

5- Ông Trần Ngọc T2, sinh năm: 1978

6- Ông Trần Quốc K, sinh năm: 1981

7- Bà Trần Thị Thanh T3, sinh năm: 1982

Cùng địa chỉ: tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B.

(Ông L, ông D, bà D1 ông T2, ông K và bà T3 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu và lời trình bày của bà Phạm Thị T:

Bà Phạm Thị T và ông Trần Văn Q (ông Q đã chết năm 2015) có 08 người con là: Trần Thanh A (đã chết); Trần Thanh N (đã chết); Trần Thanh L; Trần Bạch T1; Trần Thanh D; Trần Kim D1; Trần Ngọc T2; Trần Quốc K; Trần Thanh T3. Vào ngày 25/11/2018 bà T1 bỏ nhà đi, ngày này là sau ngày giỗ xả tang ông Q nên bà T mới nhớ chính xác ngày, khi đi bà T1không báo cho bà T và gia đình biết, gia đình bà T đã tìm kiếm nhiều ngày nhưng không có tin tức gì của bà T1. Thời điểm bà T1 bỏ nhà đi trong gia đình bà T không có ai mâu thuẫn gì với nhau, các anh chị em của bà T1 đều đã lập gia đình và ở riêng, còn bà T1 chưa có chồng con nên ở chung với bà T.

Nay, thời gian đã quá lâu mà không thấy bà T1 quay trở về, nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố con gái ruột của bà là bà Trần Bạch T1, sinh năm: 1970; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B là một người mất tích, mục đích là để làm các thủ tục giấy tờ liên quan đến nhà đất cho các con.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh L; ông Trần Thanh D; bà Trần Kim D1; ông Trần Ngọc T2; ông Trần Quốc K; bà Trần Thị Thanh T3 tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2021 trình bày: Chúng tôi là anh chị em ruột của bà T1. Vào ngày 25/11/2018 bà T1 bỏ nhà đi, khi đi bà T1 không nói cho gia đình biết, gia đình đã tìm kiếm nhiều ngày nhưng không có tin tức gì của bà T1, thời điểm này anh chị em đều đã lập gia đình và ở riêng, còn bà T1 chưa có chồng con nên ở chung với mẹ là bà Phạm Thị T. Trong quá trình gia đình chung sống đều hòa thuận vui vẻ không có mâu thuẫn gì, nên chúng tôi không biết vì sao bà T1 lại bỏ nhà đi. Chúng tôi đồng ý với yêu cầu của bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu về quá trình giải quyết vụ việc, xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Điền thụ lý vụ việc là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết của Thẩm phán và thư ký là đảm bảo đúng thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ việc bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu tuyên bố con bà là bà Trần Bạch T1 là một người mất tích, kèm theo đơn đã nộp các chứng cứ chứng minh. Vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà T tuyên bố bà Trần Bạch T1 là một người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Điền nhận định:

Về tố tụng: Bà Phạm Thị T yêu cầu tuyên bố bà Trần Bạch T1 là một người mất tích, bà T1 có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại: 138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B, nên yêu cầu của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền theo Điều 27 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Phạm Thị T yêu cầu tuyên bố bà Trần Bạch T1 là một người mất tích. Chính quyền địa phương nơi bà T1 cư trú cuối cùng xác nhận từ khoảng năm 2018-2019 cho đến nay bà T1 không có mặt và không trở về địa phương lần nào. Bà T đã đăng tin tìm kiếm bà T1 trên Báo Công lý 03 số liên tiếp là 3, 4, 5 các ngày 12, 14, 19/01/2022 và Đài Tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp từ ngày 10,11,12/01/2022 nhưng không có tin tức của bà T1. Do đó, có cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố bà Trần Bạch T1 là một người mất tích.

Việc xác định ngày mất tích của bà T1: Bà T cùng anh chị em ruột của bà T1 xác định ngày bà T1 bỏ nhà đi là ngày 25/11/2018, còn Ban khu phố xác định năm bà T1 bỏ nhà đi khoảng vào năm 2018-2019. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự xác định ngày bà Trần Bạch T1 mất tích là ngày 25/11/2018.

Chi phí đăng, phát tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà T1 do bà T chịu và đã nộp đủ.

Về lệ phí: Bà T không phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, do bà T có đơn xin miễm giảm tiền lệ phí thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; các Điều 371, 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 và 69 của Bộ luật dân sự.

1- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

2- Tuyên bố bà Trần Bạch T1, sinh năm: 1970; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 1138E tổ 4 khu phố A, thị trấn L huyện Đ, tỉnh B đã mất tích. Ngày mất tích của bà Trần Bạch T1 là ngày 25/11/2018.

3- Chi phí đăng, phát tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Đã xong.

4- Về lệ phí: Bà T không phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà T tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0009824 ngày 28/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền.

5- Trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định giải quyết việc dân sự (26/5/2022), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính từ ngày nhận bản sao Quyết định giải quyết việc dân sự hoặc bản sao Quyết định giải quyết việc dân sự được niêm yết công khai.

Cỡ chữ