- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NTD - CHT"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị DTMT:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TH NH PH H PH NG ˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉˉ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-DS | ng àng, ngày 12 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Đức Trung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 23/2022/TLST-VDS ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số /2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2023, gồm người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị DTMT, sinh năm 1987; ĐKHKTT: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Xóm D, thôn E, xã F, huyện G, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 20 tháng 10 năm 2022, Bản tự khai ngày 21 tháng 11 năm 2022 và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị DTMT trình bày:
Mẹ đẻ chị là bà H, sinh năm 1958 và bố đẻ là ông I, sinh năm 1948. Bà H và ông I chỉ có một người con là chị. Đến năm 1988, bà H và ông I ly hôn. Chị ở cùng với mẹ, bà ngoại tên là J sinh năm 1928 và dì ruột tên là K sinh năm 1960 tại địa chỉ: Số A, phường B, quận C, Hải Phòng. Vào khoảng năm 1994 bà H bỏ nhà đi cho đến nay không rõ tung tích. Đến nay chị có nguyện vọng được thay mẹ để nhận các chế độ chính sách thờ cúng liệt sỹ L (là anh cùng mẹ khác cha với bà H) thì Ủy ban nhân dân phường B yêu cầu chị phải làm thủ tục yêu cầu tuyên bố bà H mất tích tại Tòa án thì mới đủ điều kiện thay bà H nhận các chế độ chính sách thờ cúng liệt sỹ L. Chị cùng gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm cũng như trực tiếp làm thủ tục đăng báo tìm kiếm bà H trên Báo Hải Phòng trong ba số liên tiếp nhưng không có tin tức gì của bà H. Do đó chị yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giải quyết tuyên bố mẹ đẻ chị là bà H mất tích để chị còn hoàn thiện thủ tục thay bà H nhận các chế độ chính sách thờ cúng liệt sỹ L tại Ủy ban nhân dân phường B.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ việc: Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị DTMT, tuyên bố bà H mất tích. Về lệ phí: Chị DTMT phải nộp 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nhận định:
Về tố tụng: Bà H, sinh năm 1958; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng. Vì vậy yêu cầu của chị DTMT thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Bà H bỏ nhà đi từ khoảng năm 1994, đến nay vẫn không ai biết tin tức. Chị DTMT và gia đình đã áp dụng rất nhiều các biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có kết quả, không biết bà H đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì bà H bỏ nhà đi từ khoảng năm 1994, chị DTMT không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng, nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, thời hạn biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng tức là ngày 01 tháng 01 năm 1995. Do vậy tính đến nay bà H đã biệt tích 02 năm liền trở lên, không biết ở đâu, làm gì.
Sau khi thụ lý việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định thông báo, tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà H. Thông báo việc tìm bà H được đăng trên Báo Nhân dân ba số liên tiếp, phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần liên tiếp và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên, vẫn không có tin tức xác thực về việc bà H còn sống hay đã chết.
Từ những căn cứ tại các mục [2], [3], chấp nhận yêu cầu của chị DTMT, tuyên bố bà H, sinh năm 1958; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự.
Về quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Do chị DTMT không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà H nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị DTMT phải nộp 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của chị DTMT:
Tuyên bố: Bà H, sinh năm 1958; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Số A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị DTMT phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí giải việc dân sự sơ thẩm chị DTMT đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009591 ngày 02/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Chị DTMT đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP.Hải Phòng; - VKSNDTP. Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - THADS quận Hồng Bàng; - UBND phường B; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự; HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Minh Phương |