vanban.org

Quyết định 08/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 08/12/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

Về án phí dân sự: Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Trần Quốc B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 3596 ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Quốc B -UBND xã B"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2020/QĐ-PTHải Phòng, ngày 08 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Minh Phương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

Bà Bùi Thị Thúy Hà

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đào Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020,

Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào quy định tại Điều 217, Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng thuê đất công ích để nuôi trồng thủy sản, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1951; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị E, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện A, thành phố Hải Phòng (theo Giấy ủy quyền ngày 29/5/2020).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Bá G – Luật sư Công ty luật H thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã D, huyện A, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: xã D, huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị E, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Tại đơn kháng cáo ngày 23 tháng 10 năm 2020, nguyên đơn là ông Trần Quốc B đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng với lý do: Diện tích đất 3.279m2 đất nuôi trồng thủy sản gia đình ông B đã ký hợp đồng thuê với Ủy ban nhân dân xã D có nguồn gốc là đất khai hoang, theo quy định của pháp luật đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Ủy ban nhân dân xã D ký hợp đồng cho thuê đất công ích là trái thẩm quyền. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền giải quyết: Việc kháng cáo quyết định đình chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm - quy định tại Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Từ năm 2000 đến năm 2010, ông Trần Quốc B và Ủy ban nhân dân xã D, huyện A đã ký kết Hợp đồng về việc thuê đất công ích để nuôi trồng thủy sản, thời hạn cho thuê đến ngày 31 tháng 12 năm 2014. Ngày 21 tháng 11 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện A đã ban hành Quyết định số 1615/QĐ-UBND thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đầu tư xây dựng nghĩa trang nhân dân đảo Cát Hải (giai đoạn đầu) tại xã D, huyện A, trong đó có diện tích đất ông B đã ký hợp đồng thuê. Ông B đã chấp hành quyết định này nên ngày 23/11/2012 đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bàn giao mặt bằng. Ngày 18/3/2020, ông Trần Quốc B có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng về việc thuê đất công ích nuôi trồng thủy sản ngày 28/01/2010 đã ký kết giữa ông B và Ủy ban nhân dân xã D là vô hiệu. Đề nghị Tòa án tuyên công nhận nguồn gốc sử dụng đất của ông B là do khai hoang, cải tạo. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về hợp đồng thuê đất công ích để nuôi trồng thủy sản. Căn cứ theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ông B đã biết quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm từ năm 2012 nhưng đến năm 2020 mới làm đơn khởi kiện. Ngày 25/9/2020, Ủy ban nhân dân xã D có văn bản đề nghị áp dụng quy định về thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án về yêu cầu khởi kiện của ông B.

Tại phiên họp, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng phúc thẩm xem xét hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Ngoài lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ để ra Quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Tuất thì còn có cơ sở để xác định: Ngày 21 tháng 11 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện A đã ban hành Quyết định số 1615/QĐ-UBND thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đầu tư xây dựng nghĩa trang nhân dân đảo Cát Hải (giai đoạn đầu) tại xã D, huyện A, trong đó có diện tích đất ông B đã ký hợp đồng thuê. Ông B đã chấp hành quyết định này và ngày 23/11/2012 đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bàn giao mặt bằng mà không có khiếu nại. Việc Ủy ban nhân dân xã D ký hợp đồng cho ông B thuê đất để nuôi trồng thủy sản đã được Ủy ban nhân dân huyện A đồng ý. Điều này thể hiện tại Thông báo số 109/TB-UBND ngày 07/3/2018 của Ủy ban nhân dân huyện A về kết quả giải quyết đơn kiến nghị của một số hộ gia đình tại xã D và thị trấn Cát Hải, huyện A. Như vậy, có thể xác định ông B và Ủy ban nhân dân xã D đã thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng thuê đất. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các lý do nêu trên để ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020 là có cơ sở nên không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc B, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

- Về án phí dân sự:

Ông B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông B số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Ông B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên do ông B là người cao tuổi nên miễn án phí phúc thẩm cho ông B - khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 2 Luật Người cao tuổi;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí dân sự:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông Trần Quốc B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 3596 ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Quốc B. Trả lại ông Trần Quốc B số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số 3636 ngày 02/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ