vanban.org

Quyết định 08/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 31/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, tuyên bố anh Vũ Văn N sinh năm 1983, nơi cư trú cuối cùng xóm 3, Thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0000363 ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, tuyên bố anh Vũ Văn N sinh năm 1983, nơi cư trú cuối cùng xóm 3, Thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2019/QĐST-VDSThủy Nguyên, ngày 31 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Anh Sơn

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên họp: Bà Đồng Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 31/2019/TLST-VDS ngày 27 tháng 02 năm 2019 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2019/QĐST-VDS ngày 15 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2019/QĐST-VDS ngày 24 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T; địa chỉ: Xóm 1, Thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Anh Vũ Văn N kết hôn vơi chị Nguyễn Thị T vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới vợ chồng đăng ký thường trú và sinh sống tại xóm 3, Thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì anh Vũ Văn N tự ý bỏ nhà đi. Sau khi anh Vũ Văn N bỏ nhà đi, chị Nguyễn Thị T đã tìm kiếm anh Vũ Văn N nhiều nơi, trong nhiều năm nhưng đến nay không biết anh Vũ Văn N ở đâu. Nay chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố anh Vũ Văn N mất tích để làm thủ tục ly hôn anh Vũ Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận định:

Anh Vũ Văn N là người mà chị Nguyễn Thị T đề nghị tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại xóm 3 thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Vũ Văn N sinh năm 1983, nơi cư trú cuối cùng tại xóm 3, thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng đã biệt tích hai năm liền trở lên. Thời hạn biết được tin tức cuối cùng về anh Vũ Văn N là ngày 01 tháng 01 năm 2011. Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự như đăng nhắn tin trên Báo Công Lý trong ba số liên tiếp, số 21, 22, 23 ngày đăng đầu tiên 13 tháng 3 năm 2019; đăng phát tin trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp, phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15 và 16 tháng 3 năm 2019 và đăng trên Cổng thông tin điện tử Thành phố Hải Phòng và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Đến nay đã kết thúc thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Vũ Văn N còn sống hay đã chết. Do vậy theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Kể từ khi thụ lý việc dân sự thì Thẩm phán đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật, các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên họp chấp nhận yêu cầu tuyên bố anh Vũ Văn N mất tích.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, tuyên bố anh Vũ Văn N sinh năm 1983, nơi cư trú cuối cùng xóm 3, Thôn NN, xã SK, huyện NT, thành phố Hải Phòng mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0000363 ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ