vanban.org

Quyết định 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Đinh Công Th. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đinh Thị Kim Tr, sinh ngày 19/3/2010, kể từ khi ly hôn. Anh Đinh Công Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị bẩy xin ly hôn anh thắng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2019.
V/v “tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tiến Nghị.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Qúy.

2. Bà Hoàng Nữ Quyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Triệu Xuân Trường- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXX-ST ngày 25 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988. có mặt.

Trú tại: Khu 14, xã Phượng Vĩ, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Đinh Công Th, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Trú tại: Khu 6, xã Mỹ Lung, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 18/02/2019 và tại phiên tòa hôm nay như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Th tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phượng Vĩ, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, ngày 16/10/2008, thời gian đầu kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Th thường xuyên uống rượu, cờ bạc về đánh đập vợ con, chị và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Đến năm 2015 hai mẹ con chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu 14, xã Phượng Vĩ, huyện Cẩm Khê sinh sống, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn không thể trở về đoàn tụ được nữa, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.

Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là Đinh Thị Kim Trang, sinh ngày 19/3/2010, hiện nay cháu Trang đang sống cùng chị, sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: chị xác định vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: chị xác định vợ chồng không vay nợ của ai và không có tài sản gì cho ai vay, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công sức: chị xác định trong thời gian làm dâu không có công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Đinh Công Th trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên anh Th vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh, hiện nay anh Th vẫn sống cùng bố mẹ tại khu 6, xã Mỹ Lung, huyện Yên Lập. Đại diện gia đình bà Hoàng Thị Hoa (bà Hoa là mẹ đẻ anh Th) đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết sẽ giao cho anh Th. Bà H cho biết anh Th đã biết việc Tòa án thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị B yêu cầu giải quyết việc ly hôn với anh, nhưng lý do vì sao anh Th không đến Tòa án giải quyết thì bà Hoa không nắm được. Việc anh Th vắng mặt trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên Tòa hôm nay nên không có quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng của vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Đinh Công Th.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đinh Thị Kim Tr, sinh ngày 19/3/2010, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị B (do chị B tự nguyện không yêu cầu)

Về tài sản chung, công nợ, công sức: chị B xác định không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị B, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Do anh Đinh Công Th hiện đang cư trú tại khu 6, xã Mỹ Lung, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, nên Tòa án nhân dân huyện Yên Lập đã thụ lý giải quyết vụ án theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Đinh Công Th mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh Th vắng mặt không lý do. Ngày 16/5/2019 Tòa án đã phải hoãn phiên tòa xét xử. Tại phiên tòa hôm nay anh Th vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Công Th.

Về Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Đinh Công Th tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phượng Vĩ, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, ngày 16/10/2008, theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị B xác định trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng chỉ hòa thuận, hạnh phúc thời gian đầu sau đó sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chị B xác định do anh Th thường xuyên uống rượu, cờ bạc về đánh đập vợ con, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2015 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể trở về đoàn tụ được nữa, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Th.

Qúa trình giải quyết vụ án anh Th không đến Tòa án làm việc nên không tiến hành hòa giải được, qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh Th được đại diện Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Lung và đại diện gia đình anh Th là bà Hoàng Thị Hoa (bà Hoa là mẹ đẻ anh Th) cho biết chị B và anh Th đã sống ly thân nhau từ năm 2015 đến nay, chị B và con về sống cùng bố mẹ đẻ của chị B ở khu 14, xã Phượng Vĩ, huyện Cẩm Khê. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị B và anh Th thực sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên việc chị B xin ly anh Th là có căn cứ, đúng thực tế phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy nên xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Đinh Văn Th.

Về con chung: Chị B và anh Th có 01 con chung là Đinh Thị Kim Tr, sinh ngày 19/3/2010, sau ly hôn chị B đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Trang có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Anh Th không đến Tòa án làm việc để thể hiện nguyện vọng được nuôi con. Do đó, chị B có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Đinh Công Th.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đinh Thị Kim Tr, sinh ngày 19/3/2010, kể từ khi ly hôn. Anh Đinh Công Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị B (Do chị B tự nguyện không yêu cầu). Anh Đinh Công Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Nguyễn Thị B cùng các thành viên gia đình không được cản trở.

3. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị B xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm. Xác nhận chị B đã nộp đủ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0005491 ngày 18/02/2019.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Nguyễn Thị B được quyền kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh Đinh Công Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú.

Cỡ chữ