vanban.org

Quyết định 08/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 26/11/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Đ.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969: Nơi cư trú cuối cùng tại ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Trà Vinh mất tích. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Buộc chị Kim Thị Đ phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là 300.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2018/QĐST-VDS
Ngày 26-11-2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Mỹ Chấm

- Thư ký phiên họp: Bà Liêng Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 296/2018/TLST-VDS ngày 13 tháng 6 năm 2018 “Yêu cầu tuyên bố mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2018/QĐST-VDS ngày 15-11-2018 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Kim Thị Đ, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969: Địa chỉ: Ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ý kiến của chị Kim Thị Đ trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã F, trước khi chị và anh H kết hôn anh H có hộ khẩu ở ấp B, xã C, huyện T, Sau khi kết hôn anh H nhập hộ khẩu về bên gia đình chị ở ấp E, xã F sống, thời gian sống chung chị và anh H không có con chung, tài sản chung và nợ chung. Chị và anh H sống chung đến năm 2009 anh H bỏ nhà đi cho đến nay, còn ngày tháng năm anh H đi chị không nhớ, năm 2012 chị tự ra xã cắt khẩu bỏ tên anh H khỏi hộ khẩu nhà chị. Nay chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn H mất tích để chị làm thủ tục xin ly hôn với anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ việc từ khi thụ lý cho đến ngày quyết định mở phiên họp, Thẩm phán đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định pháp luật.

Sau khi phân tích nội dung và chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự: Vị Kiểm sát viên đề nghị căn cứ Điều 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Đ tuyên bố anh Nguyễn Văn H mất tích. Về lệ phí, chi phí nhắn tin, đăng thông báo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần nhận định.

Chị Kim Thị Đ kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào năm 2005 quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh Nguyễn Văn H đã bỏ địa phương đi biệt tích từ năm 2012 đến nay. Như vậy chị Kim Thị Đ là người có quyền yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn H mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào xác nhận ngày 19/6/2018 của Công an xã F thì anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú cuối cùng tại ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Trà Vinh nhưng đến ngày 27/6/2012 anh H đã bỏ địa phương đi biệt tích đến nay. Mặt dù Tòa án đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng đến nay không có tin tức. Vì vậy, chị Kim Thị Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn H mất tích là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, lệ phí nhắn tin, đăng thông báo: Chị Kim Thị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp hôm nay là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 387; 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Đ.

2. Tuyên bố anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969: Nơi cư trú cuối cùng tại ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Trà Vinh mất tích.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Buộc chị Kim Thị Đ phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0017795 ngày 13-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Chị Kim Thị Đ đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Anh Nguyễn Văn H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

4. Về lệ phí nhắn tin và đăng thông báo tìm kiếm: Buộc chị Kim Thị Đ phải chịu 2.894.000 đồng (chị Đ đã nộp và chi xong).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt, được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết công khai.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA

Cỡ chữ