vanban.org

Quyết định 08/2018/QĐ-TA

TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Tuyên án 26/10/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Chu Văn T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2018/QĐ-TABắc Quang, ngày 26 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG - TỈNH HÀ GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hà Tuấn Vĩnh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Dạ Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang.

Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2018/QĐ-TA ngày 19 tháng 10 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Chu Văn T, giới tính: Nam

Sinh ngày: 09/12/1978.

CMTND số: 073163427, cấp ngày: 06/3/2018, nơi cấp: Công an Hà Giang.

Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12.

Nguyên quán: Xã H, huyện Q, tỉnh G.

Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh G; chỗ ở hiện nay: Không ổn định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Tiền án: không; tiền sự: Không.

Con ông: Chu Văn N và bà: Nguyễn Thị L.

(Vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đặng Thị Phượng - Chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Bắc Quang.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Hoàng Thị Lượng – Kiểm sát viên VKSND huyện Bắc Quang.

3. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Ngày 01/10/2018 Công an xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang phối hợp với trạm y tế xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang xét nghiệm ma túy đối với Chu Văn T và Trạm y tế xã Kim Ngọc có kết luận anh Chu Văn T sử dụng ma túy (heroine). Tại bản tường trình ngày 01/10/2018, anh Chu Văn T khai nhận bản thân thường sử dụng trái phép chất ma túy (heroine) từ năm 2016 cho đến nay. Hiện Chu Văn T được giao cho Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Hà Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 76/QĐ-UBND ngày 01/10/2018 của Chủ tịch UBND xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Ngày 05/10/2018 Công an xã Kim Ngọc có biên bản làm việc với Công an xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và xác nhận anh Chu Văn T có HKTT tại thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh G, tuy nhiên Chu Văn T không có mặt ở địa phương, bản thân anh T đi đâu làm gì không báo cáo chính quyền địa phương, không chấp hành các nội quy, quy định của địa phương.

Ngày 15/10/2018 Phòng Tư pháp huyện Bắc Quang đã kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T.

Sau khi kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 16/10/2018 Phòng lao động Thương binh và xã hội huyện Bắc Quang có công văn số: 144/LĐTBXH đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Giang và đã chuyển toàn bộ hồ sơ của người bị đề nghị Chu Văn T tới Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Chu Văn T với thời hạn là 18 đến 24 tháng.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng thời nêu quan điểm: Đã có đủ thủ tục và căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T với thời hạn cai nghiện bắt buộc là từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Chu Văn T thấy, hồ sơ được lập đầy đủ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự của Luật xử lý vi phạm hành chính; theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ; Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của anh Chu Văn T đã được Công an xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang phát hiện và anh Chu Văn T cũng đã khai nhận toàn bộ việc nghiện ma túy (heroine) của mình. Công an xã Kim Ngọc, huyện Bắc Quang đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Chu Văn T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan chuyên môn đã tiến hành xét nghiệm đối với người nghiện ma túy và kết quả xét nghiệm đã xác định Chu Văn T dương tính với ma túy. Điều đó chứng tỏ Chu Văn T là người đã nghiện ma túy, Chu Văn T có nơi cư trú không ổn định. Do vậy cần phải đưa Chu Văn T đi cai nghiện bắt buộc, nếu để ngoài xã hội thì rất nguy hiểm cho cộng đồng dân cư, làm phát sinh các tệ nạn xã hội, cho nên đưa Chu Văn T đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của anh Chu Văn T thấy rằng: Bản thân Chu Văn T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc anh T đã “tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi”, phối hợp với các cơ quan tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó anh T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính, anh T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của anh Chu Văn T đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Xét thấy đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bắc Quang và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang là có căn cứ nên được chấp nhận. Do vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T với thời gian cai nghiện bắt buộc là 22 tháng để đảm bảo cho Chu Văn T cắt được cơn nghiện, nhằm tạo điều kiện cho Chu Văn T sớm tái hòa nhập cộng đồng.

Căn cứ vào các tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp. Căn cứ vào ý kiến của cơ quan đề nghị trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên.

Căn cứ vào các điều 95, 96, khoản 2 điều 105 và điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ, Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ; các điều 3, 22, 23, 29, 30 và điều 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 13.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Giang tại thôn Nà Ngao, xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Bắc Quang có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Bắc Quang kết hợp với Công an huyện Bắc Quang thi hành quyết định này.

Cỡ chữ