vanban.org

Quyết định 07/QĐ-TA

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/03/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “ Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với NguyÔn Hải T tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy tỉnh Nghệ An (Địa chỉ: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày NguyÔn Hải T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ng êi bÞ ®Ò nghÞ NguyÔn Hải T có quyền khiếu nại; Trưởng phòng lao động thương bị xã hội thị xã T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hải T - Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “ Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với NguyÔn Hải T tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy tỉnh Nghệ An (Địa chỉ: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An).
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TAThị xã T, ngày 22 tháng 03 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Phùng Thị Hương Giang

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An..

Ngày 22 tháng 3 năm 2017, tại phòng họp Tòa án nhân dân thị xã T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 05/QĐ-TA ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Hải T - Giới tính: Nam

Sinh ngày: 03/10/1964

Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không

Trình độ văn hoá: Lớp 12/12

Nguyên quán: Phường C, Thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động thương bị xã hội thị xã T: Ông Phan Văn Cường; Chức vụ: Phó trưởng phòng;

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T - Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên

3. Đại diện cơ quan lập hồ sơ: Ông Nguyễn Xuân Chung; Chức vụ: Phó trưởng Công an phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

NHẬN THẤY:

ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc cũng như lời khai trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp thì Nguyễn Hải T khai nhận là người nghiện chất ma túy từ năm 2007 cho đến nay. Ngày 23/7/2018 Công an phường Q, thị xã T đã tiến hành làm việc với Nguyễn Hải T. Trong quá trình làm việc Nguyễn Hải T khai nhận: Thời gian sử dụng ma túy gần nhất vào đầu tháng 6 năm 2018 do T mua ma túy (loại đá) của một người đàn ông làm nghề xe lai (không biết tên, tuổi và địa chỉ) tại bến xe Lam Hồng, tỉnh Bình Dương và đưa về sử dụng bằng hình thức hút tại khối T, phường Q, thị xã T tỉnh Nghệ An.

Do đó, ngày 09/8/2018 UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường số 157/QĐ-UBND đối với Nguyễn Hải T với thời hạn 3 tháng kể từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/11/2018. Sau khi chÊp hµnh xong biện pháp giáo dục tại x·, phường T vẫn không tiến bộ mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cu thể:

Ngày 03/01/2019 Tổ công tác Công an thị xã T bắt quả tang Nguyễn Hải T cùng với Trần Mạnh D trú tại xóm P, xã T, thị xã T cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy (dạng hồng phiến) tại xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An, nên tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vi phạm đối với Nguyễn Hải T. Tại Công an phường Q, T đã khai nhận hành vi vi phạm của mình. Do vậy, Công an phường Q, thị xã T đã lập hồ sơ đối với Nguyễn Hải T và tiến hành cho test nước tiểu. Kết quả cho dương tính với chất ma túy.

Do NguyÔn Hải T là đối tượng nghiện chất ma túy, gia đình không quản lý được, gây dư luận xấu trong nhân dân, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi nghiện chất ma túy nh ng sau khi chÊp hµnh xong T vÉn kh«ng chÞu tu d ìng, rÌn luyÖn b¶n th©n mµ vÉn tiÕp tôc sö dông chất ma tóy nªn ngày 14/01/2019 C«ng an phường Q, thị xã T đã lập hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa NguyÔn Hải T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 23/01/2019 Công an phường Q, thị xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Phòng tư pháp để xem xét.

Ngày 24/01/2019, Phòng Tư pháp thị xã T có thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ.

Ngày 24/01/2019 Phòng tư pháp chuyển hồ sơ cho phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã T để xem xét và đề nghị.

Ngày 11/3/2019, Phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã T Hòa đã có văn bản số 40/LĐ-TBXH và chuyển hồ sơ kèm theo, Phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã T đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với NguyÔn Hải T.

Ngày 12/3/2019 Tòa án nhân dân thị xã T đã thụ lý hồ sơ số 04/2019/TB-TLHS, về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hải T.

Tại phiên họp đại diện Phòng lao động thương binh xã hội thị xã T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị. Đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân thị xã T áp dụng biện pháp xử lý hành đưa Nguyễn Hải T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 đến 24 tháng. Đại diện cơ quan lập hồ sơ nhất trí như đề nghị của Phòng lao động thương binh xã hội thị xã T.

Tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Hải T trình bày: Bản thân T thừa nhận là người nghiện chất ma túy từ năm 2007 cho đến nay, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường nhưng hiện tại vẫn còn nghiện (sử dụng trái phép chất ma túy). Nay do điều kiện hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn vợ con bỏ đi làm ăn xa, một mình còn nuôi mẹ già, nên xin xem xét giảm thời gian cai nghiện bắt buộc để sớm trở về với gia đình.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã T phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hải T do UBND phường Q và Phòng lao động thương binh xã hội thị xã T đề nghị đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên vẫn còn một số sai sót cần khắc phục sửa chữa: Đối với cơ quan lập hồ sơ Công an phường Q, thị xã T đã vi phạm về biểu mẫu đối với các tài liệu sau: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị; thông báo về việc lập hồ sơ; văn bản đề nghị kiểm tra tính pháp lý; thiếu bản tường trình của người bị đề nghị; hồ sơ chưa đánh số bút lục; Chậm gửi hồ sơ cho Trưởng Phòng tư pháp. Đối với cơ quan đề nghị: Chậm gửi văn bản đề nghị và hồ sơ cho tòa án nhân dân thị xã T và không đánh số bút lục. Việc thông báo thụ lý, ra quyết định mở phiên họp và tiến hành phiên họp của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân theo pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã T chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hải Triều.

XÉT THẤY:

Sau khi kiểm tra và xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của cơ quan đề nghị, ®¹i diÖn c¬ quan lËp hå s¬, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã T nhận định:

1. Về đối tượng áp dụng: Nguyễn Hải T đã đủ 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, nhưng sau khi chấp hành xong vẫn tiếp tục nghiện (sử dụng trái phép chất ma túy). Vì vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hải T là đúng đối tượng, đúng hành vi vi phạm theo quy định tại điều 95; điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sử đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Về thẩm quyền giải quyết:

Phòng Lao động - Thương binh xã hội thị xã T đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng nghiện ma túy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

3. Về trình tự thủ tục lập hồ sơ: Hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ về nhân thân, các tài liệu chứng minh về tình trạng nghiện chất ma túy và tài liệu chứng minh đã bị áp dụng biện pháp tại xã phường, thị trấn cũng như các tài liệu khác và được lập đúng trình tự, thủ tục, được cơ quan có thẩm quyền thẩm định tính pháp lý của hồ sơ quy định tại các Điều 8 đến Điều 13; điều 136 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính nên đảm bảo điều kiện xem xét. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 điều 104 luật xử lý vi phạm hành chính thì: “Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại điều 103 của Luật này, Trưởng phòng Lao động

- Thương binh và xã hội cấp huyện quyết định chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Theo tài liệu có trong hồ sơ xác định ngày 24/01/2019 Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã T nhận được hồ sơ. Tuy nhiên đến ngày 11/3/2019 Phòng lao động mới chuyển hồ sơ và văn bản đề nghị sang Tòa án nhân dân thị xã T là vi phạm về thời hạn chuyển hồ sơ, đồng thời một số văn bản làm chưa đúng mẫu theo quy định. Vì vậy, Tòa án nhân dân thị xã T kiến nghị - yêu cầu Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã T rút kinh nghiệm và thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật.

4. Về nội dung:

Xét về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm của NguyÔn Hải T thấy rằng: NguyÔn Hải T là người nghiện chất ma túy từ năm 2007 cho đến nay. Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thị xã T xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống Nguyễn hải T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và hiện tại đang sử dụng chất ma túy (dạng hồng phiến) bằng hình thức hút, mặc dù đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên sau khi chÊp hµnh biÖn ph¸p giáo dục tại x·, phường NguyÔn Hải T đã không tu dưỡng rèn luyện, tự giác cai nghiện mà tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của NguyÔn Hải T không chỉ gây hậu quả xấu về sức khỏe, cuộc sống của T và gia đình mµ còn gây mất trật tự trị an địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. NguyÔn Hải T nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nh ng vÉn cè ý sö dông.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của NguyÔn Hải T thấy rằng: Nguyễn Hải T có nhân thân xấu: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thị xã T xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’túy”. Tuy nhiên thấy rằng quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp Nguyễn Hải T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ cho Triều được quy định tại khoản 2 điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp những người tham gia phiên họp đều thống nhất cần thiết phải đưa NguyÔn Hải Triều vào cơ sở cai nghiện b¾t buéc tập trung mới đủ điều kiện chăm sóc, cai nghiện đối với người vi phạm, sớm tái hòa nhập cộng đồng.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 điều 6; khoản 2 điều 9; điều 95; điều 96; điều 103; điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào ®iều 3; khoản 1 ®iều 19, ®iều 23, 30, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Căn cứ vào các điều 15 Nghị định số 221/2013/CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ vào khoản 1, 2 điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-Cp ngày 09/9/2016, Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “ Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với NguyÔn Hải T tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy tỉnh Nghệ An (Địa chỉ: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày NguyÔn Hải T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Ng êi bÞ ®Ò nghÞ NguyÔn Hải T có quyền khiếu nại; Trưởng phòng lao động thương bị xã hội thị xã T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã T chủ trì, phối hợp với Phòng lao động thương binh xã hội Thị xã T đưa NguyÔn Hải T người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ