vanban.org

Quyết định 07/QĐ-TA

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 07/05/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, địa chỉ: Khu 4, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày Lê Anh T bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc. Người đề nghị c quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện TB có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, địa chỉ: Khu 4, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TB
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TATB, ngày 07 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TB, TỈNH PHÚ THỌ

V i thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Vũ Thị Minh Hòa.

2. Thư ký phiên họp: Bà Kiều Huyền Phương.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Phú Thọ, mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2025/QĐ-TA, ngày 26 tháng 4 năm 2025 đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: Lê Anh T; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 15 tháng 4 năm 1984;

Nơi cư trú: Khu Q, xã M, huyện TB, tỉnh Phú Thọ.

Số căn cước công dân: 025084006144; ngày cấp: 04 tháng 4 năm 2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn h a: Lớp 9/12.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Lê Trung T1, sinh năm 1956 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1958.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số: 2941/QĐ- UBND, ngày 20/10/2011 của Chủ tịch UBND huyện TB, tỉnh Phú Thọ, Lê Anh T bị đưa vào cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng tại TTGD- LĐXH tỉnh Phú Thọ (sau đổi tên thành Cơ sở Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Phú Thọ). Trừ thời gian bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện, Lê Anh T đã chấp hành xong ngày 12/10/2024.

Về nhân thân:

- Tại Bản án số: 40/2007/HSST, ngày 28/9/2007, Lê Anh T bị Toà án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, phải nộp 50.000.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Lê Anh T đã chấp hành xong bản án ngày 10/10/2009 (Đã được xoá án tích).

- Tại Quyết định số: 41/QĐ- UBND, ngày 06/3/2025 của Chủ tịch UBND xã M, huyện TB, tỉnh Phú Thọ, Lê Anh T bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 06/3/2025 đến ngày 06/3/2027. Ngày 16/4/2025 Chủ tịch UBND xã M đã ra Quyết định số: 50/QĐ- UBND chấm dứt biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Lê Anh T, do trong thời gian quản lý sau cai nghiện T đã tái nghiện

Lê Anh T được giao cho gia đình quản lý từ ngày 16/4/2025 (C đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Ông Bùi Đăng Lưu- Chức vụ: Trưởng Công an xã M, huyện TB, tỉnh Phú Thọ. C mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Lê Anh T sinh năm 1984, nơi cư trú: Khu Quyết Thắng, xã M, huyện TB, tỉnh Phú Thọ đã cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị nghiện ma tuý tỉnh Phú Thọ trong thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 12/10/2024, nhưng đến đầu tháng 3/2025 T mới trở về địa phương trình diện. Chủ tịch UBND xã M đã Quyết định số: 41/QĐ- UBND ngày 06/3/2025 áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với T trong thời gian 02 năm, từ ngày 06/3/2025 đến ngày 06/3/2027.

Thực hiện kế hoạch quản lý người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma tuý, người bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý trên địa bàn xã, hồi 15 giờ 30 phút ngày 14/4/2025, Công an xã M mời Lê Anh T đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, Công an xã sử dụng que test ma túy bốn thành phần kiểm tra ma tuý trong nước tiểu đối với T, kết quả: Trên que thử thể hiện 01 vạch đỏ ở cột ký hiệu MOP (dương tính). Lê Anh T khai nhận: Do bị bạn bè rủ rê, đã nghiện chất ma tuý từ năm 2002, loại ma tuý sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là tiêm chích qua mạch máu vào cơ thể. Sau khi cai nghiện bắt buộc, T được UBND xã ra quyết định quản lý sau cai, nhưng trong thời gian này T tiếp tục sử dụng ma tuý và tái nghiện. Lần gần đây nhất T sử dụng trái phép chất ma túy là vào sáng ngày 13/4/2025. T một mình đi xe mô tô đến khu vực ngã tư 27/7 thuộc địa phận phường HV, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, nhờ một người đàn ông làm nghề chở xe ôm mua hộ 200.000 đồng ma tuý Heroin. Sau khi mua được ma tuý, trên đường về nhà, đến đoạn đường vắng người thuộc địa phận xã ĐT, huyện TB, T đã sử dụng hết cho bản thân bằng cách pha Heroin với Novocain, dùng xi lanh tiêm chích qua mạch máu vào cơ thể.

Cùng ngày 14/4/2025, Công an xã M c văn bản đề nghị Trung tâm Y tế huyện TB xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Sau khi tiếp nhận, theo dõi, tiến hành các xét nghiệm, ngày 16/4/2025, Trung tâm Y tế huyện TB kết luận: Lê Anh T có nghiện ma túy dạng thuốc phiện, tên loại ma túy sử dụng là Heroine, Morphin. Cùng ngày 16/4/2025, Công an xã M đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho Lê Anh T và lập biên bản vi phạm “Về việc trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý mà tái nghiện” đối với Lê Anh T. Theo đề nghị của Trưởng Công an xã M, Chủ tịch UBND xã M đã ra Quyết định số: 50/QĐ- UBND ngày 16/4/2025 chấm dứt biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Lê Anh T. Cùng ngày 16/4/2025 Công an xã M tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý, do trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý T đã tái nghiện; thông báo cho Lê Anh T về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo về việc đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Ngày 22/4/2025, Công an xã M có văn bản đề nghị số: 09/ĐN- CNBB gửi kèm theo hồ sơ tới Toà án nhân dân huyện TB, đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T.

* Tuy vắng mặt tại phiên họp, nhưng tại các bản tường trình, bản cam kết của và các biên bản ghi lời khai do Công an xã M, huyện TB lập được lưu trong hồ sơ vụ việc, Lê Anh T đều thừa nhận hành vi vi phạm như đã nêu trên và thể hiện sự ăn năn hối lỗi.

* Tại phiên họp, người đề nghị giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án nhân dân huyện TB áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T, thời gian từ 18 tháng đến 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, địa chỉ: Khu 4, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TB phát biểu ý kiến như sau: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành nhận, thụ lý hồ sơ, phân công Thẩm phán, quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, khoản 2 Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ các điều: 40, 41; khoản 1, khoản 3, khoản 3 Điều 42; các điều 44, 45 Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ điểm a, d khoản 1, khoản 2 Điều 7, Điều 8, Điều 11 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT- BCA- VKSNDTC, TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổikhi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 20, các điều: 21, 23, 24, 25, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân:

Chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã M, huyện TB, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T, thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, địa chỉ: Khu 4, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

XÉT THẤY:

Người bị đề nghị là Lê Anh T c đơn xin vắng mặt tại phiên họp; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện TB căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để tiến hành phiên họp vắng mặt Lê Anh T.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T được Trưởng Công an xã M, huyện TB lập là đúng thẩm quyền lập, c đầy đủ các tài liệu và đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định. Tài liệu trong hồ sơ c căn cứ xác định: Lê Anh T c năng lực trách nhiệm hành chính, đã trên 18 tuổi, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý đã tái nghiện. Lê Anh T là người nhiễm HIV giai đoạn 2, không phải bệnh hiểm nghèo, nên không thuộc trường hợp Toà án đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Thời điểm Công an xã M, huyện TB lập biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma tuý đối với Lê Anh T là ngày 14/4/2025, còn thời hiệu để áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét về nhân thân, tính chất mức độ hành vi vi phạm: Lê Anh T c nhân thân xấu, là người nghiện ma túy lâu năm, đã từng bị kết án phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích), hiện c 01 tiền sự. Bản thân T thiếu ý thức và quyết tâm cai nghiện. Trong thời gian cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 2941/QĐ-UBND, ngày 20/10/2011 của Chủ tịch UBND huyện TB, tỉnh Phú Thọ, Lê Anh T đã bỏ trốn một thời gian dài, nên ngày 12/10/2024 T mới chấp hành xong. Sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc, mới áp dụng biện pháp quản lý sau cai một thời gian rất ngắn T đã tái nghiện. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T trong một thời gian dài, để T c thể từ bỏ ma túy, tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân c ích cho xã hội.

Lê Anh T được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, do đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Lê Anh T bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính là tái phạm, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trưởng Công an xã M, huyện TB và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TB đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T là c căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy, cần chấp nhận. Căn cứ nhân thân, hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính áp dụng đối với Lê Anh T, xét thấy cần buộc T chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc 20 tháng. Thời hạn cai nghiện bắt buộc được tính từ ngày Lê Anh T bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, khoản 2 Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ các điều: 40, 41; khoản 1, khoản 3, khoản 3 Điều 42; các điều 44, 45 Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ điểm a, d khoản 1, khoản 2 Điều 7, Điều 8, Điều 11 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT- BCA- VKSNDTC, TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổikhi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 20, các điều: 21, 23, 24, 25, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Anh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ, địa chỉ: Khu 4, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày Lê Anh T bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.

3. Người đề nghị c quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện TB có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp c quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

4. Quyết định này c hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không c khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã M, huyện TB, tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ