vanban.org

Quyết định 07/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N: Tuyên bố anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-05-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02-7-2021; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ c…

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002517 ngày 04-11-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Bà Nguyễn Thị N, ông Vũ Văn S có quyền kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà N yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N: Tuyên bố anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-05-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02-7-2021; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ c…
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2026/QĐST-VDSNinh Bình, ngày 24 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lương Việt Bằng.

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2025/TLST-VDS ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là mất tích” theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2026/QĐST-VDS ngày 19 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 15-3-1969; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) (có mặt).

2. Người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích: Anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-5-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ là số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vũ Văn S, sinh ngày 21-10-1958; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) (có mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị N và ông Vũ Văn S là: Ông Nguyễn Hoài T, sinh ngày 10-12-1979; nơi cư trú: Số I đường N, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, bà Nguyễn Thị N trình bày: Năm 1997, bà và ông Vũ Văn S, sinh năm 1958 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (cũ). Bà và ông S có 02 người con chung là Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-5-1998 và Vũ Anh T1, sinh ngày 09-7-2002. Ngoài 02 con chung kể trên thì ông bà không còn người con nào khác.

Con trai lớn của bà là Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-05-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02-7-2021. Anh L là nhân viên giám sát kinh doanh kênh TR tại thành phố N, tỉnh Nam Định cho Công ty Cổ phần T3 (địa chỉ: Tầng C, cao ốc HDTC, số C B, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh). Kể từ ngày 03-7-2023, anh Vũ Sỹ L đi làm nhưng không trở về nhà, không có tin tức gì liên hệ, điện thoại không liên lạc được. Gia đình bà đã sử dụng mọi biện pháp liên hệ họ hàng, người thân và bạn bè của anh L, tuy nhiên vẫn không tìm thấy, không có tin tức gì về anh L. Gia đình bà đã thực hiện mọi cách, mọi biện pháp để tìm con trai từ ngày 03-7-2023 đến nay nhưng không được, sau đó bà đã báo Công an phường T và Công an thành phố N (cũ) tiến hành các thủ tục điều tra, tìm kiếm anh L, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì và cũng không tìm thấy anh L.

Trước khi biệt tích, anh L có đăng ký thường trú và cư trú tại địa chỉ cũ: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình). Trước khi không có thông tin gì để xác thực còn sống hay đã chết, anh Vũ Sỹ L chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi và con nuôi. Nay, để đảm bảo các quyền dân sự của anh L được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bà yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tuyên bố anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-5-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02-7-2021; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D phố H, phưòng Nam Định, tỉnh Ninh Bình) là người đã mất tích.

2. Tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, ông Vũ Văn S (là bố đẻ anh Vũ Sỹ L) và anh Vũ Anh T1 (là em trai anh Vũ Sỹ L) trình bày: Anh Vũ Sỹ L là con trai của ông Vũ Văn S (sinh năm 1958) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1969); anh Vũ Sỹ L là anh trai của anh Vũ Anh T1. Kể từ ngày 03-7-2023, anh Vũ Sỹ L đi làm nhưng không trở về nhà, không có tin tức gì liên hệ, điện thoại không liên lạc được. Gia đình đã sử dụng mọi biện pháp liên hệ họ hàng, người thân và bạn bè của anh L, tuy nhiên vẫn không tìm thấy, không có tin tức gì về anh L. Gia đình đã đề nghị Công an phường T và Công an thành phố N tiến hành các thủ tục điều tra, tìm kiếm anh L, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì và cũng không tìm thấy anh L. Nơi cư trú cuối cùng của anh Vũ Sỹ L trước khi bỏ đi biệt tích là số 42 phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D H, phường N, tỉnh Ninh Bình). Anh L chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi và con nuôi. Nay bà Nguyễn Thị N làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích, quan điểm của ông S và anh T1 là nhất trí với yêu cầu của bà N.

3. Tại đơn trình bày ngày 03-12-2025, bà Nguyễn Thị N1 là chị gái bà Nguyễn Thị N và ông Vũ Văn C là anh trai ông Vũ Văn S xác nhận: Anh Vũ Sỹ L là con trai của bà Nguyễn Thị N và ông Vũ Văn S. Anh L chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi và con nuôi. Anh L bỏ nhà đi từ ngày 03-7-2023 đến nay không có tin tức gì, gia đình người thân bạn bè không ai biết anh L ở đâu làm gì. Nơi cư trú cuối cùng của anh L trước khi bỏ đi biệt tích là: Số D H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D H, phường N, tỉnh Ninh Bình). Ông bà nhất trí với việc bà N, ông S, anh T1 yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích.

4. Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị N là ông Nguyễn Hoài T trình bày: Ông là người quen của ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị N, ông xác nhận anh Vũ Sỹ L là con trai của ông S và bà N, anh L sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông thì đi làm tự do, ngày 03-7-2023 anh L đi làm sau đó không quay trở về nhà nữa, đến nay không có tin tức gì, gia đình người thân bạn bè không ai biết anh L ở đâu làm gì. Gia đình ông S, bà N đã sử dụng mọi biện pháp liên hệ họ hàng, người thân và bạn bè của anh L, tuy nhiên vẫn không tìm thấy, không có tin tức gì về anh L. Gia đình cũng đã đề nghị Công an phường T và Công an thành phố N tiến hành các thủ tục điều tra, tìm kiếm anh L, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì và cũng không tìm thấy anh L. Nơi cư trú cuối cùng của anh L trước khi bỏ đi biệt tích là: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D H, phường N, tỉnh Ninh Bình). Nay ông là người đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị N, ông đề nghị Toà án tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích theo quy định của pháp luật.

5. Tòa án tiến hành xác minh tại Công an khu vực, tổ dân phố P, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là tổ dân phố T, phường N, tỉnh Ninh Bình) nơi cư trú cuối cùng của anh Vũ Sỹ L, chính quyền địa phương cung cấp: Anh Vũ Sỹ L đã đi khỏi địa phương từ ngày 03-7-2023 đến nay. Khi đi, anh Vũ Sỹ L chưa có vợ, con, chỉ có bố là ông Vũ Văn S và mẹ là bà Nguyễn Thị N cùng em trai là Vũ Anh T1, anh L cũng không có bố mẹ nuôi. Nơi cư trú cuối cùng của anh L trước khi bỏ đi là: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Đinh (nay là số D H, phưòng N, tỉnh Ninh Bình). Từ khi anh L bỏ đi đến nay, gia đình anh L đã nhiều lần đề nghị Công an phường T và Công an thành phố N tiến hành các thủ tục điều tra, tìm kiếm và liên hệ với Công ty cổ phần T3 có địa chỉ tại tầng C, cao ốc HDTC số C B, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm anh L nhưng vẫn không có tin tức gì của anh L. Kể từ ngày anh L bỏ đi khỏi địa phương đến nay, địa phương không nắm được anh L ở đâu, làm gì. Nay bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

6. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Vũ Sỹ L, đăng thông tin tìm kiếm trên B 03 số báo liên tiếp 94, 95, 96 ra các ngày 21, 26 và 28 tháng 11 năm 2025; trên Đài tiếng nói Việt Nam các ngày 23, 24 và ngày 25 tháng 11 năm 2025; trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh N ngày 28 tháng 11 năm 2025; trên T2 thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 15 tháng 11 năm 2025. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm anh Vũ Sỹ L không có kết quả, không có tin tức gì về anh L.

7. Tại công văn số 111/XNC ngày 15-01-2026, Phòng Xuất nhập cảnh Công an tỉnh N cung cấp: Qua tra cứu dữ liệu điện tử, không có thông tin về hoạt động xuất nhập cảnh của trường hợp Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-5-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình nhận xét đánh giá:

- Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự đã được Tòa án đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Điều 370; Điều 371, Điều 372, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N: Tuyên bố anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-5-1998; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình) là người đã mất tích.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng.

- Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích, đây là quan hệ dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Bà Nguyễn Thị N và anh Vũ Sỹ L đều có đăng ký thường trú tại số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27; Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hoài T vắng mặt nhưng bà Nguyễn Thị N và ông Vũ Văn S có mặt tham gia tố tụng. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành mở phiên họp là theo đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu tuyên bố một người là mất tích:

Căn cứ vào lời trình bày của bà N, ông S, anh T1, ông C, bà N1, ông T thì anh Vũ Sỹ L bỏ đi biệt tích không có tin tức từ ngày 03-7-2023, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là số 42 phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ là số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định). Gia đình anh L đã tìm kiếm nhiều năm nay nhưng không có thông tin gì của anh L. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ, chính quyền địa phương, Cảnh sát khu vực nơi cư trú của anh Vũ Sỹ L xác nhận từ ngày 03-7-2023 đến nay, anh Vũ Sỹ L bỏ đi khỏi địa phương không có tin tức gì.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Vũ Sỹ L. Tiến hành nhắn tin tìm kiếm anh Vũ Sỹ L đăng trên B 03 số báo liên tiếp 94, 95, 96 ra các ngày 21-11-2025, 26-11-2025 và 28-11-2025; nhắn tin tìm kiếm anh Vũ Sỹ L trên Đ phát sóng liên tiếp các ngày 23, 24, 25 tháng 11 năm 2025, đồng thời ngày 15-11-2025 đăng thông tin tìm kiếm anh Vũ Sỹ L trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh N ngày 28 tháng 11 năm 2025. Đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên và tính từ ngày 03-7-2023 đến thời điểm Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, vẫn không có tin tức xác thực về việc anh L còn sống hay đã chết. Như vậy, Tòa án có cơ sở xác định anh Vũ Sỹ L biệt tích 02 năm liền trở lên, không có tin tức xác thực về việc anh Vũ Sỹ L còn sống hay đã chết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tuyên bố anh Vũ Sỹ L là người mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N là người yêu cầu nên phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149; Điều 367; Điều 370; Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025)

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N: Tuyên bố anh Vũ Sỹ L, sinh ngày 12-05-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02-7-2021; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số D phố H, phường N, tỉnh Ninh Bình (địa chỉ cũ là số D phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) là người mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002517 ngày 04-11-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

3. Bà Nguyễn Thị N, ông Vũ Văn S có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. Anh Vũ Sỹ L có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định./.

Cỡ chữ