- Tranh chấp gì? "Lê Minh T "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc""
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T; Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn Phú Vang, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2025/QĐ-TA | Tuy Hòa, ngày 14 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Phan Thị Lệ Siêng
2. Thư ký phiên họp: Võ Đức Vũ Tài
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/2025/QĐ-TA ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với:
Đối với: Lê Minh T, tên khác: Tịt em;
Sinh ngày 03 tháng 12 năm 2002; CCCD số: 054202000557 Ngày cấp: 13/4/2021 Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH;
Nguyên quán: xã B, thành phố T, Phú Yên; Hộ khẩu thường trú: thôn P, xã B, thành phố T, Phú Yên;
Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Lê Minh T , sinh năm 1974 và bà: Phan Thị O – sinh năm 1974.
Có mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hồng T1 – Phó trưởng Công an xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa: ông Cao Tấn Tiền – kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tháng 02 năm 2025, Lê Minh T sử dụng trái phép chất ma túy, Uỷ ban nhân dân xã B, thành phố T đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 40/QĐ-UBND ngày 21 tháng 02 năm 2025 nhưng Lê Minh T vẫn tiếp tục sử dụng. Ngày 21 tháng 4 năm 2025, Trung tâm y tế thành phố Tuy Hòa xét nghiệm đối với Lê Minh T và kết luận: Nghiện ma túy, dương tính với chất ma túy đá (MET) trong cơ thể. Uỷ ban nhân dân xã B, thành phố T có quyết định số 116/QĐ-UBND ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy” và có Quyết định số 115/QĐ-UBND ngày 21 tháng 4 năm 2025 “Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng” đối với Lê Minh T, giao gia đình phối hợp hỗ trợ, quản lý Lê Minh T thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện theo đăng ký tại Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên, thời gian 06 tháng, từ ngày 21 tháng 04 năm 2025 đến ngày 21 tháng 10 năm 2025, nhưng Lê Minh T không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện theo quyết định số 115/QĐ-UBND ngày 21 tháng 4 năm 2025. Ngày 26 tháng 4 năm 2025, Uỷ ban nhân dân xã B, thành phố T có biên bản vi phạm số 02/BB-VPHC về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Trưởng Công an xã Bình Kiến đã có văn bản số 02/ĐN-CNBB ngày 29/4/2025 về việc “Xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lê Minh T.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị (Công an xã Bình Kiến) đề nghị Tòa án xem xét hành vi, mức độ vi phạm hành chính của người bị đề nghị để áp dụng thời hạn cai nghiện bắt buộc thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng đối với Lê Minh T.
Người bị đề nghị Lê Minh T ý kiến: Vì một chút ham vui nên Lê Minh T nghe lời bạn bè rủ rê sử dụng ma túy, nay đã thấy sai xin Tòa án giảm nhẹ thời gian cai nghiện bắt buộc để sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết đảm bảo đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an xã Bình Kiến, đã đủ căn cứ để đưa người bị yêu cầu đi cai nghiện tại cơ sở bắt buộc. Căn cứ Điều 95, 96 luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T trong thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng, thời hạn được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ lưu hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở kết quả tại phiên họp cũng như ý kiến phát biểu của những người tham gia phiên họp. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xét thấy:
Lê Minh T nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy: Ngày 17/02/2025 bị Công an xã Bình Kiến xử phạt 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 11/02/2025; Ngày 21/02/2025, Uỷ ban nhân dân xã B, thành phố T đã ban hành Quyết định số 40/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng Lê Minh T không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy (dương tính với MET).
Ngày 21 tháng 4 năm 2025 Ủy ban nhân dân xã Bình Kiến đã ban hành Quyết định số Quyết định số 115/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng trong thời hạn 06 tháng, nhưng Lê Minh T không đăng ký, không thực hiện, tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy 2021. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của cơ quan đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi không đăng ký, không thực hiện, tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện của Lê Minh T không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà hành vi đó còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính. Bản thân Lê Minh T đã được giáo dục tại xã/phường nhưng vẫn không từ bỏ được chất ma túy. Xét thấy, Lê Minh T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không đủ khả năng để tự mình cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, nên cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm động viên, giúp đỡ Lê Minh T học tập, cai nghiện đối với chất ma túy.
Từ các nội dung nêu trên, căn cứ Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 20 và Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Chấp nhận đề nghị của Cơ quan đề nghị về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lê Minh T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh T; Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: thôn Phú Vang, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.
- Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.
- Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Phú Yên; - Công an xã Bình Kiến, TP. Tuy Hòa; - UBND xã Bình Kiến, TP. Tuy Hòa - VKSND TP. Tuy Hòa - Lưu hồ sơ Hướng dẫn sử dụng mẫu số 09: (1) và (3) Ghi tên Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cần ghi rõ Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (2) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. (4) Ghi địa điểm Tòa án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H). (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. (7) Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Tòa án quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. (9) Ghi tên cơ quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. | THẨM PHÁN Phan Thị Lệ Siêng |