- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Phạm Hoài K"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Hoài K về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư” đối với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 2209, ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre .
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2024/QĐST-VDS | Giồng Trôm, ngày 30 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngoan.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai việc dân sự thụ lý số: 37/2024/TLST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số 06/2024/QĐPH-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo đơn yêu cầu của:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Hoài K, sinh năm 1979;
Địa chỉ: ấp H, xã L , huyện G, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
[1] Theo đơn yêu cầu ngày 20 tháng 8 năm 2024 và tại phiên họp, người yêu cầu trình bày: Ông là chồng hợp pháp của bà với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: ấp Hòa Lợi, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông bà L cưới nhau vào năm 2009, đến tháng 10/2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L Hòa và bà L chuyển hộ khẩu về chung với ông tại xã L Hòa. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại xã L Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2023 thì vợ chồng tranh cãi nên bà L bỏ nhà đi đâu không rõ, cắt đứt liên lạc với gia đình. Ông có liên hệ với gia đình bên vợ để tìm kiếm nhưng không biết tin tức gì của bà L.
Do đó, ông K yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị L. Ông K không yêu cầu quản lý tài sản của người vắng mặt nơi cư trú vì không có.
[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu quan điểm tại phiên họp:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: đúng quy định.
-Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú của ông Phạm Hoài K đối với bà Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; lời trình bày của người yêu cầu, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm nhận định:
Về tố tụng: Xét yêu cầu của ông Phạm Hoài K yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị L, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị L có nơi cư trú cuối cùng tại số 2209, ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, diểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Ông K trình bày ông và bà L kết hôn và năm 2010. Sau khi kết hôn, bà L sống cùng ông tại xã L Hòa đến tháng 10/2023, bà L đã bỏ địa phương, không rõ đi đâu làm gì, không liên lạc với gia đình, đến nay gia đình không có tin tức gì. Lời trình bày này phù hợp với xác nhận Công an xã L Hòa. Như vậy, có căn cứ để xác định rằng, tính đến thời điểm ông K nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thì bà L đã biệt tích hơn 06 (tháng) liền trở lên và đến nay không có tin tức gì. Căn cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật Dân sự, khoản 1 Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của ông K là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Ông Phạm Hoài K là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 64 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 27, 35, 149, 370, 372, 381, 384 và Điều 386 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Hoài K về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư” đối với bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 2209, ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre .
Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực khi bà Nguyễn Thị L trở về.
[2] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Hoài K có nghĩa vụ nộp lệ phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001781 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Ghi nhận ông Phạm Hoài K đã nộp đủ lệ phí.
[3] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Thị Ngoan |