- Tranh chấp gì? "Lò Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Số: 07/2024/QĐ-TA | Móng Cái, ngày 18 tháng 01 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: ông Nguyễn Thùy Dương
Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Sơn
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/2024/QĐ-TA ngày 10 tháng 01 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Lò Văn Đ; giới tính: nam; sinh ngày 06 tháng 12 năm 1999; căn cước công dân số: 012099004776; dân tộc: Lào; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 09/12; nguyên quán: xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký thường trú: bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi ở hiện nay: sống lang thang, không có nơi ở cố định tại thành phố M; nghề nghiệp: không; tiền án, tiền sự: không; Con ông Lò Văn X và bà Lò Thị T. Vắng mặt tại phiên họp, có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Trần Nguyên N - Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M (theo Giấy ủy quyền số: 03/GUQ, ngày 16/01/2024 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M về việc ủy quyền tham gia phiên họp).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 12/12/2023, Công an phường H, thành phố M đang làm nhiệm vụ tại khu B, phường H, thành phố M thì phát hiện Lò Văn Đ có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên tổ công tác Công an phường H yêu cầu kiểm tra hành chính và mời ông Đặng Chí T1 chứng kiến việc kiểm tra hình chính và yêu cầu về trụ sở Công an phường H lập biên bản kiểm tra hành chính, cùng ngày Công an phường H lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đồng thời lập bản tóm tắt lý lịch của của Lò Văn Đ, thể hiện, nơi đăng ký thường trú của Đ tại bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng Đôi sống lang thang, không có nơi ở cố định tại thành phố M.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 12/12/2023, đối với Lò Văn Đ thể hiện kết quả dương tính với ma túy (định tính M)
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 15/12/2023, xác định: anh Lò Văn Đ nghiện ma túy, loại: “Heroine”.
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai của Lò Văn Đ đều thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ đầu năm 2023. Ngày 10/12/2023 Đ có sử dụng ma túy Heroine, đến ngày 12/12/2023 do có biểu hiện nghi vấn nên Đ bị Công an phường H phát hiện lập biên bản kiểm tra hành chính.
Tại phiếu trả lời xác minh của Công an xã N đã xác định Lò Văn Đ đăng ký thường trú tại bản Nà Vàn, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không khai báo tạm vắng. Xác định Đ là đối tượng nghiện ma túy sống lang thang, không có nơi ở ổn định và Đ đã có lời khai về việc không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy.
Ngày 15/12/2023, Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 392/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cùng ngày, Công an phường H, thành phố M đã bàn giao Lò Văn Đ vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quyết định nêu trên.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M thể hiện tại Văn bản số: 04/ĐN-CNBB ngày 03/01/2024 đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M giữ nguyên quan điểm trong Văn bản số 04 nêu trên và đề nghị thời gian chấp hành cai nghiện là từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng, để Đ có thời gian chữa trị, phục hồi.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về trình tự thực hiện thủ tục và giải quyết việc xem xét, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ đã được Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ trong thời hạn từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên.
Người bị đề nghị: quá trình giải quyết việc, cơ quan có thẩm quyền đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho Lò Văn Đ theo quy định của pháp luật, anh Đ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc và ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ, do Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M lập là hợp pháp, đúng trình tự pháp luật quy định.
Lò Văn Đ là người đã thành niên, nhận thức và biết rõ việc sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không làm chủ được bản thân nên vẫn cố ý thực hiện và đã nghiện ma túy từ đầu năm 2023 đến nay. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ là nguy hiểm cho bản thân và ảnh hưởng xấu cho xã hội, còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.
Qua xác minh đã xác định Đ đăng ký thường trú tại: bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu nhưng không sinh sống tại địa phương. Đôi sống lang thang, không có nơi ở và công việc không ổn định tại thành phố M. Nội dung này phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, biên bản ghi lời khai, phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cùng các tài liệu khác có trong đề nghị, có đủ cơ sở để xác định: Lò Văn Đ là người sử ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, là đối tượng theo khoản 1 Điều 96 Luật xử phạt hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); hơn nữa, Đ không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, do đó, việc đưa Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, để giúp Đ được học tập, lao động, chữa bệnh, có cơ hội cai nghiện ma tuý để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có cơ sở để chấp nhận.
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình thiết lập hồ sơ, Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem xét cho Đ hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Tình tiết tăng nặng: không có.
Căn cứ: Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ: Điều 3; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy Đôi Thường vụ Quốc hội về “trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân”; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) tiếp nhận quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
3. Lò Văn Đ có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
| Nơi nhận: - Trưởng Phòng LĐTB&XH thành phố Móng Cái; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; - Người bị áp dụng; - UBND xã Nà Tăm, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; - UBND phường Hải Hoà, thành phố Móng Cái; - Lưu hồ sơ/VT. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |