- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hà Thị Loan"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị L về việc “Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2023/QĐST-HNGĐ | Yên Sơn, ngày 08 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Mạnh Hồng
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên họp: Bà Hoàng Trà My – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2023 về việc ‘‘Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hà Thị L, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh T. Vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt
tại phiên họp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Mạnh H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ 01, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Vắng
mặt có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, bản tự khai và quá trình giải quyết việc dân sự chị Hà Thị L trình bày:
Chị và anh Bùi Mạnh H trước đây là vợ chồng, chị và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 03/7/2009, sau khi kết hôn hai vợ chồng cư trú, sinh sống tại thành phố S, tỉnh S(nhà bố mẹ anh H) quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh H có hành vi bạo lực với chị về cả thể xác và tinh thần, do không chịu đựng được nên đến khoảng tháng 5/2010 chị đã bỏ nhà đi làm ăn xa, chị cũng không dám về nhà bố mẹ đẻ ở vì sợ anh H tìm đến gây chuyện, do nhiều lý do khác nhau nên trong thời gian đi làm ăn xa chị không liên lạc với gia đình, đến năm 2019 chị mới trở về địa phương ở với mẹ đẻ là bà Phạm Thị N ở Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh T. Sau này chị được biết, năm 2013 anh H đã làm thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị, tại Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tuyên bố chị mất tích; sau khi có quyết định tuyên bố chị mất tích anh H đã làm thủ tục ly hôn với người mất tích, tại bản án số: 188/2013/HNGĐ-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định cho anh H được ly hôn với chị; về con chung, tài sản chung, nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị đã trở về địa phương sinh sống tại Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh T chung sống với mẹ đẻ là bà Phạm Thị N.
Chị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang hủy Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 về việc tuyên bố một người mất tích đối với chị.
Đối với Bản án số: 188/2013/DS-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã có hiệu lực pháp luật nên chị không có ý kiến gì, chị nhất trí theo quyết định của bản án, nhất trí ly hôn với anh Bùi Mạnh H.
- Tại bản tự khai cũng như tại đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp anh Bùi Mạnh H trình bày:
Anh và chị Hà Thị L trước đây là vợ chồng, anh và chị L kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 03/7/2009, sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống, cư trú tại tỉnh Sơn La, quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 5/2010 (không nhớ ngày cụ thể) chị L xin phép anh và gia đình anh về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Tuyên Quang chơi, sau đó không thấy chị L quay lại chung sống với anh nữa, anh và gia đình đã tổ chức tìm kiếm chị L nhiều lần, ở nhiều nơi trong suốt một thời gian dài nhưng không có tin tức gì của chị L. Năm 2013 anh đã làm thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tại Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tuyên bố chị L mất tích; sau khi có quyết định tuyên bố chị L mất tích anh đã làm thủ tục ly hôn với người mất tích, tại bản án số: 188/2013/HNGĐ-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định cho anh được ly hôn với chị Hà Thị L; về con chung, tài sản chung, nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị Hà Thị L đã trở về địa phương tại Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh T chung sống với mẹ đẻ là bà Phạm Thị N, chị L yêu cầu hủy Quyết định yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị. Việc chị L yêu cầu hủy Quyết định yêu cầu tuyên bố một người mất tích là chính đáng nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn hủy Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 về việc tuyên bố một người mất tích đối với chị L.
Đối với Bản án số: 188/2013/HNGĐ-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã có hiệu lực pháp luật, bản thân anh sau khi ly hôn cũng đã lập gia đình riêng không còn liên quan gì đến chị L nên anh không có ý kiến gì.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Xét thấy yêu cầu của chị Hà Thị L là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị L, tuyên hủy bỏ Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 về việc tuyên bố chị Hà Thị L mất tích. Ngoài ra đề nghị tuyên về nghĩa vụ chịu lệ phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 16/8/2013, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, về việc tuyên bố một người mất tích đối với chị L, hiện nay chị L đã trở về địa phương và yêu cầu Tòa án hủy quyết định nêu trên, vì vậy yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm c khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp người yêu cầu là chị Hà Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Mạnh H vắng mặt, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và ý kiến trình bày lưu trong hồ sơ vụ việc. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
. Về xem xét nội dung yêu cầu: Chị Hà Thị L và anh Bùi Mạnh H kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 03/7/2009, quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chung sống không hạnh phúc.
Đến khoảng tháng 5/2010 (không nhớ ngày cụ thể) chị L đã bỏ nhà đi làm ăn xa, trong quá trình đi làm ăn xa do nhiều lý do khác nhau nên chị L không liên lạc với gia đình cũng như anh H. Năm 2013 anh Bùi Mạnh H đã làm thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tại Quyết định số 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tuyên bố chị Hà Thị L mất tích; sau khi có quyết định tuyên bố chị L mất tích anh H đã làm thủ tục ly hôn với người mất tích, tại bản án số: 188/2013/HNGĐ-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định cho anh được ly hôn với chị Hà Thị L; về con chung, tài sản chung, nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo cung cấp của đại diện thôn Đồng Cầu, xã Tứ Quận và Công an xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang thì việc chị L bỏ nhà đi không có tin tức từ năm 2010, nhưng đến năm 2019 chị L có trở về địa phương và hiện nay chị L đang cư trú tại Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh T là đúng thực tế.
Xét thấy, có căn cứ xác định chị Hà Thị L bỏ nhà đi không có tin tức từ năm 2010, nhưng hiện nay đã trở về cư trú, sinh sống tại địa phương. Vì vậy yêu cầu hủy Quyết định tuyên bố một người mất tích của chị Hà Thị L là có căn cứ và chính đáng, cần được chấp nhận.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 70 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 367, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị L về việc “Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích”.
Hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích số: 02/2013/QĐVDS-ST, ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
2. Hậu quả của việc hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích: Bản án số: 188/2013/HNGĐ-ST, ngày 15/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vẫn có hiệu lực pháp luật thi hành.
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hà Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 000000629947, ngày 30/8/2023 Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết công khai.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Tiến Hào Đặng Thị Huệ | Vũ Mạnh Hồng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Mạnh Hồng |