- Tranh chấp gì? "Số thụ lý 07/2023/TLST – HC ngày 11 tháng 9 năm 2023"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2023/QĐ – TA | B, ngày 18 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Bảy.
Ngày 18/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/2023/QĐ - TA ngày 12/9/2023 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; hiện đang bị quản lý tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: 035086005723; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Quốc Tr (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th (đã chết); vợ: Đỗ Thị H. Tiền án, tiền sự: Không.
Đặc điểm nhân thân: Ngày 19/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999; chấp hành xong bản án ngày 10/01/2020. (có mặt)
Phiên họp có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Phó trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Nam.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam: Bà Nguyễn Thị Thúy Tình – Kiểm sát viên.
3. Đại diện Công an xã A: Ông Trần Nam Trung - Phó trưởng Công an xã.
NHẬN THẤY:
Theo tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T như sau:
Ngày 06/9/2023 chị Đỗ Thị H là vợ Nguyễn Quốc T có đơn đề nghị Công an xã A đưa Nguyễn Quốc T đi cai nghiện bắt buộc.
Tại văn bản do Nguyễn Quốc T trình bày vào ngày 07/9/2023, Nguyễn Quốc T thừa nhận bản thân sử dụng ma tuý từ năm 2013, loại ma tuý sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là hít, lần sử dụng gần nhất là ngày 05/9/2023; đồng thời ngày 07/9/2023 T làm đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma tuý của bản thân. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 07/9/2023 của Trạm y tế xã A, huyện B đã xác định Nguyễn Quốc T nghiện ma tuý, loại Heroine.
Ngày 07/9/2023, Uỷ ban nhân dân xã A thông báo cho Nguyễn Quốc T biết việc phải đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng T không đăng ký do đó Ủy ban nhân dân xã A đã lập biên bản vi phạm về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Ngày 07/9/2023, Uỷ ban nhân dân xã A thông báo cho Nguyễn Quốc T biết việc Uỷ ban nhân dân xã A lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
Sau khi Uỷ ban nhân dân xã A hoàn thành việc lập hồ sơ, Nguyễn Quốc T đã được đọc hồ sơ và không có đề nghị hay ý kiến gì.
Ngày 08/9/2023, Công an xã A đã giao hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T đến Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Nam.
Ngày 11/9/2023, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B giao hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T tới Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B có quan điểm: Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy và nhưng không đăng ký thực hiện cai nghiện tự nguyện vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Quốc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng tại Trung tâm điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam, địa chỉ: Thị trấn Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Tại phiên họp, người bị đề nghị - Nguyễn Quốc T trình bày quan điểm: Việc anh bị Uỷ ban nhân dân xã A, huyện B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thực tế. Anh không có đề nghị hay ý kiến gì về hồ sơ. Anh đề nghị xem xét giảm thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh.
Tại phiên họp, đại diện Công an xã A có quan điểm: Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy. Mặc dù chính quyền đã cử người cùng gia đình giáo dục thuyết phục song T vẫn không đăng ký thực hiện cai nghiện tự nguyện. Để đấu tranh đẩy lùi tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời giúp T cai nghiện; Công an xã A đề nghị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng thẩm quyền; quá trình chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa Nguyễn Quốc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng quy định do vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện B chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T theo quy định.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Quốc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Phòng chống ma túy, Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021.
Xét thấy Nguyễn Quốc T là đối tượng nghiện ma túy; mặc dù được chính quyền xã A yêu cầu nhưng Nguyễn Quốc T đã từ chối đăng ký và thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện.
Ngày 07/9/2023, Nguyễn Quốc T đã được đọc và giao nhận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. T không phản đối, khiếu nại về việc bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Từ những phân tích trên, xét thấy hồ sơ đã đầy đủ thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và đúng thực tế vì vậy thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T để giúp đỡ, giáo dục T từ bỏ việc nghiện ma túy, trở thành một công dân tốt, biết chấp hành pháp luật; góp phần ổn định tình hình trật tự và an toàn xã hội tại địa phương cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa đẩy lùi tệ nạn nghiện ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Quốc T không được hưởng tình tiết nào.
Về tình tiết tăng nặng: Nguyễn Quốc T không phải chịu tình tiết nào.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 3; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Áp dụng khoản 2 Điều 105; Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Áp dụng khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy.
Áp dụng Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Nguyễn Quốc T bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 07/9/2023).
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Nguyễn Quốc T có quyền làm đơn khiếu nại quyết định gửi đến Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, tỉnh Hà Nam chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Hà Nam đưa Nguyễn Quốc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo cho Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam biết kết quả thi hành./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện B; - Phòng LĐ - TB&XH huyện B; - Công an huyện B; - UBND xã A; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, vp. | THẨM PHÁN Đặng Trần Anh Dũng (đã ký) |