- Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về kỷ luật viên chức"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 22/2022/KN-HC ngày 26/9/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 266 Luật Tố tụng hành chính; Điều 271 Luật Tố tụng hành chính; Điều 272 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định giám đốc thẩm Số: 07/2023/HC-GĐT Ngày 12 tháng 4 năm 2023 V/v khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về kỷ luật viên chức |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Thành phần Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Biên Thùy;
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Văn Thuân;
- Ông Ngô Tiến Hùng;
- Ông Trần Hồng Hà;
- Bà Đào Thị Minh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lệ Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân tối cao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Ông Nguyễn Việt Hùng, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về kỷ luật viên chức” giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Cao Thị Ngọc M, sinh năm 1974;
Cư trú tại: Số 83 đường K, Khóm A, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
2. Người bị kiện: Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh Trà Vinh;
Địa chỉ: Số 09 đường L, Phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 27/6/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 2632/QĐ-UBND bổ nhiệm bà Cao Thị Ngọc M giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố T.
Ngày 16/4/2018, Ủy ban kiểm tra Thành ủy Trà Vinh ban hành Quyết định số 56/QĐ-UBKT về việc thành lập Đoàn kiểm tra để giải quyết tố cáo đối với bà M.
Ngày 19/10/2018, Cơ quan Kiểm tra - Thanh tra Thành ủy Trà Vinh ban hành Thông báo số 85-TB/KL-TTr kết luận giải quyết tố cáo đối với bà M với nội dung: Các nội dung tố cáo đúng đối với bà M bao gồm: 1) Trong lãnh, chỉ đạo chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, có biểu hiện gia trưởng, độc đoán quyết định theo ý kiến chủ quan của cá nhân mình; Thiếu trách nhiệm để cơ quan, đơn vị do mình phụ trách xảy ra tình trạng mất đoàn kết; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phủ quyết ý kiến của đa số thành viên khi thông qua vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể… 2) Trong lãnh, chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở theo tinh thần Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ, chưa thực hiện tốt việc công khai, minh bạch các khoản thu, chi kinh phí hoạt động của đơn vị từ nguồn ngân sách cấp và các khoản làm thuê bên ngoài… Ngoài nội dung tố cáo, trong quá trình tiếp và làm việc với Đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, bà M có chỉ đạo viên chức lập hồ sơ, chứng từ nhằm hợp thức hóa các hồ sơ, chứng từ có liên quan đến nội dung kiểm tra nhằm đối phó với Đoàn kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra hồ sơ, chứng từ quyết toán và lưu trữ của đơn vị, Đoàn kiểm tra phát hiện một số chứng từ thực hiện dịch vụ làm thuê cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh năm 2017 không đúng theo Quyết định 19/2016/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính và Luật Ngân sách năm 2015, cụ thể: Chứng từ chi chưa đúng quy định với số tiền 254.355.000 đồng và không có chứng từ với số tiền 104.756.000 đồng.
Ngày 10/12/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 4753/QĐ9-UBND điều động bà M - Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố T giữ chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao thành phố T.
Ngày 13/12/2018, Thành ủy Trà Vinh ban hành Thông báo số 367-TB/TU về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà M với nội dung: Khiếu nại của bà M là không đúng, Thông báo số 85-TB/KT-TTr ngày 19/10/2018 của Cơ quan Kiểm tra - Thanh tra thành phố kết luận giải quyết tố cáo đối với bà M là đúng.
Ngày 14/01/2019, Thành ủy Trà Vinh ban hành Quyết định số 2160-QĐ/TU thi hành kỷ luật bà M - Bí thư Chi bộ Trung tâm Văn hóa - Thể thao, nguyên Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao thành phố T bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng.
Ngày 12/02/2019, Thành ủy Trà Vinh ban hành Công văn số 935-CV/TU với nội dung: bà M đã có những hành vi vi phạm là không chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; không thực hiện công khai kinh phí hoạt động hàng năm; thu hồi nộp vào ngân sách nhà nước với số tiền 104.756.000 đồng; đối với số tiền 254.355.000 đồng chứng từ sai quy định, bà M phải khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thực hiện quy trình xử lý về mặt chính quyền đối với bà M.
Ngày 11/4/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 1431/QĐ-UBND về việc thi hành kỷ luật đối với bà M với nội dung: “Thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với bà Cao Thị Ngọc M, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao thành phố T (nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thể thao thành phố T) do bị kỷ luật về Đảng theo Quyết định 2160-QĐ/TU ngày 14/01/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh và các nội dung vi phạm theo Công văn số 935-CV/TU ngày 12/02/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh”.
Bà M khiếu nại Quyết định số 1431/QĐ-UBND nêu trên.
Ngày 26/7/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 2657/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà M với nội dung: Bác đơn khiếu nại của bà M, giữ nguyên Quyết định số 1431/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.
Ngày 26/8/2019, bà M khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 2657/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.
Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày: Việc khiếu nại của bà M đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T giao cơ quan chức năng xác minh, kiểm tra rõ ràng từng nội dung khiếu nại của các bên liên quan. Trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ và căn cứ những quy định của pháp luật từng thời điểm diễn ra vụ việc, ngày 26/7/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 2657/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà M là đúng quy định của pháp luật. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2020/HC-ST ngày 14/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ngọc M đối với Quyết định giải quyết khiếu nại số 2657/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 19/02/2020, bà Cao Thị Ngọc M kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ngọc M.
2. Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2657/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Ngày 27/10/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dânh thành phố T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 22/2022/KN-HC ngày 26/9/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2020/HC-ST ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ngày 11/4/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 1431/QĐ-UBND về việc thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với bà Cao Thị Ngọc M do bà M bị kỷ luật về Đảng theo Quyết định số 2160-QĐ/TU ngày 14/01/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh vì đã có các hành vi vi phạm theo nội dung Công văn số 935-CV/TU ngày 12/02/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy Trà Vinh. Không đồng ý, bà M khiếu nại Quyết định số 1431/QĐ-UBND nêu trên đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T. Ngày 26/7/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 2657/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà M với nội dung: Bác đơn khiếu nại của bà Cao Thị Ngọc M, giữ nguyên Quyết định số 1431/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.
Quyết định số 1431/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc xử lý kỷ luật bà M bằng hình thức cảnh cáo là quyết định hành chính về quản lý, tổ chức cán bộ, mang tính nội bộ của Ủy ban nhân dân thành phố T nên theo quy định tại khoản 6 Điều 3; điểm c khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Điều 20 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức quy định:
“Viên chức bị xử lý kỷ luật có quyền khiếu nại đối với quyết định xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về khiếu nại”.
Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại năm 2011 quy định:
“Việc khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; thời hiệu khiếu nại; thời hạn giải quyết khiếu nại; thẩm quyền giải quyết khiếu nại; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật của công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, người lao động trong doanh nghiệp nhà nước thực hiện theo quy định về khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức tại Chương IV của Luật khiếu nại và Nghị định này.”
Theo quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật khiếu nại năm 2011 và khoản 2 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính thì chỉ có công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống bị kỷ luật buộc thôi việc mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính. Bà M bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, không bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc nên chỉ có quyền khiếu nại (lần hai) đối với Quyết định giải quyết khiếu nại số 2657/QĐ-UBND nêu trên.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Quyết định giải quyết khiếu nại số 2657/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T là quyết định hành chính và là đối tượng khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án để thụ lý, giải quyết và bác yêu cầu khởi kiện của bà M là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2657/QĐ-UBND ngày 26/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T cũng là không đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 266, Điều 271, khoản 4 Điều 272 và Điều 275 Luật Tố tụng hành chính 2015;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 22/2022/KN-HC ngày 26/9/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 319/2020/HC-PT ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2020/HC-ST ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDTC (để báo cáo); - Viện trưởngVKSNDTC (để biết); - TAND cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Trà Vinh (kèm hồ sơ vụ án); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh; - Cục THADS tỉnh Trà Vinh; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: VP (TANDTC), Vụ GĐKTIII (3b), Vụ PC&QLKH (TANDTC), HSVA, Ths. | TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Biên Thùy |