- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Sơn T - Chị Nguyễn Thị Lệ M"
- Tòa quyết gì? Xác định anh Trần Thanh T sinh năm 1990 là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG TỈNH BG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2022/QĐST-HNGĐ | BG, ngày 25 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Phương Thảo
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG tham gia phiên họp: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BG, tỉnh BG mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 211/2022/TLST-VHNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2022/QĐST-VHNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Tr, tỉnh QN.
- Anh Trần Thanh T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn ĐĐ, xã V, huyện A, thành phố HN.
- Chị Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số nhà 09, ngõ 30, tổ dân phố số 5, phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 05/10/2017; Địa chỉ: Số nhà 09, ngõ 30, tổ dân phố số 5, phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu và bản tự khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Hồng S trình bày:
Tháng 3/2013, anh và chị Nguyễn Thị Lệ M sau một thời gian tự do tìm hiểu đã quyết định kết hôn. Anh và chị M có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường TX, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, sinh được 2 người con chung là Nguyễn Minh Tr sinh ngày 05/9/2013 và Nguyễn Sơn T1, sinh ngày 18/11/2014. Đến tháng 6/2014 thì anh và chị M xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Trại giam QN, xã H, thị xã ĐT, tỉnh QN. Đến tháng 7/2021, anh chấp hành án xong và được trở về địa phương sinh sống. Trong thời gian anh đi chấp hành án, chị M đã về nhà đẻ sinh sống và đã sinh một bé gái đặt tên là Nguyễn Minh A. Anh có nói chuyện với chị M và chị M thừa nhận cháu Minh A là con của chị M và một người đàn ông tên là Trần Thanh T. Tuy nhiên, khi chị M sinh cháu bé, anh và chị M vẫn là vợ chồng hợp pháp nên giấy khai sinh của cháu Minh A thể hiện tên bố là Nguyễn Hồng S và tên mẹ là Nguyễn Thị Lệ M.
Tháng 6/2020, chị M, anh T đã đề nghị Trung tâm phân tích ADN&Công nghệ di truyền xét nghiệm ADN giữa anh T và cháu Minh A. Nay anh, chị M, anh T cùng yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Thanh T sinh năm 1990 là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
* Theo đơn yêu cầu và bản tự khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Trần Thanh T trình bày:
Đầu năm 2017, anh và chị Nguyễn Thị Lệ M có quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau. Khi đó, anh có biết chị M đã có chồng. Do chồng chị M là anh Nguyễn Hồng S đang phải chấp hành án tại Trại giam Quảng Ninh, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh nên chị M và anh S đã ly thân từ tháng 6/2014. Trong thời gian anh và chị M có quan hệ tình cảm với nhau, chị M đã mang thai và sinh một bé gái ngày 05/10/2017, đặt tên là Nguyễn Minh A. Chị M và anh đều biết cháu Minh A là con đẻ của anh, tuy nhiên khi chị M sinh cháu Minh A, chị M và anh S vẫn là vợ chồng hợp pháp nên giấy khai sinh của cháu Minh A thể hiện tên bố là Nguyễn Hồng S và tên mẹ là Nguyễn Thị Lệ M.
Tháng 6/2020, chị M và anh có đề nghị Trung tâm phân tích ADN&Công nghệ di truyền xét nghiệm ADN giữa anh và cháu Minh A để làm thủ tục đính chính giấy khai sinh cho cháu Minh A. Nay anh, chị M, anh S cùng yêu cầu Tòa án xác định anh-Trần Thanh T sinh năm 1990 là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/2018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
* Theo đơn yêu cầu và bản tự khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị Lệ M trình bày:
Ngày 11/3/2013, chị và anh Nguyễn Hồng S đăng ký kết hôn tại UBND phường Thọ Xương, thành phố BG và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Chị và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau một thời gian tự do tìm hiểu và có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sinh được 2 người con chung là Nguyễn Minh Tr sinh ngày 05/9/2013 và Nguyễn Sơn T1, sinh ngày 18/11/2014. Tháng 6/2014, anh S vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Trại giam QN, xã H, thị xã ĐT, tỉnh QN nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 6/2014, chị về nhà đẻ sinh sống. Trong thời gian ly thân với anh S, chị có quan hệ tình cảm với anh Trần Thanh T. Ngày 05/10/2017, chị sinh một bé gái, đặt tên là Nguyễn Minh A. Cháu Minh A là con của chị và anh T, tuy nhiên, khi chị sinh cháu Minh A, chị và anh S vẫn là vợ chồng hợp pháp nên giấy khai sinh của cháu Minh A thể hiện tên bố là Nguyễn Hồng S và tên mẹ là Nguyễn Thị Lệ M.
Tháng 6/2020, chị, anh T có đề nghị Trung tâm phân tích ADN&Công nghệ di truyền xét nghiệm ADN giữa anh T và cháu M. Tháng 7/2021, anh S chấp hành án xong và trở về địa phương, chị có nói chuyện tình cảm của chị, anh T và chuyện về cháu Minh A cho anh S biết. Anh S cũng đồng ý cùng làm đơn đề nghị xác định cha cho con. Do vậy, chị, anh S, anh T cùng yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Thanh T sinh năm 1990 là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
* Tại Văn bản số 118/TTADN ngày 12/7/2022, Trung tâm phân tích ADN và công nghệ di truyền cung cấp như sau:
Ông Trần Thanh T (sinh ngày 08/4/1990, CCCD: xxxxxxxxxxxx) và cháu Nguyễn Minh A sinh (ngày 05/10/2017, Giấy khai sinh số 43/21018 do UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG cấp ngày 22/2/2018) đã đến Trung tâm phân tích ADN và Công nghệ Di truyền (CGAT Việt Nam). Trung tâm trực tiếp chụp ảnh, lấy mẫu để xét nghiệm ADN và cấp bản kết quả mã số 061102. Việc xét nghiệm theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 13/6/2020 của Trung tâm CGAT Việt Nam giữa ông Trần Thanh T và cháu Nguyễn Minh A được thực hiện theo đúng quy trình của Trung tâm đã từng làm cho các ca xét nghiệm thủ tục hành chính. Tại bản kết quả xét nghiệm ADN mã số 061102 kết luận: Cháu Nguyễn Minh A có quan hệ huyết thống với ông Trần Thanh T.
* Tại phiên họp hôm nay, anh S, anh T và chị M đều xin vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M về việc xác định anh Trần Thanh T là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh S, anh T và chị M được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố BG nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc xác định anh Trần Thanh T là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG nên xác định quan hệ pháp luật là "Yêu cầu xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị M hiện đang cư trú tại thành phố BG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BG, tỉnh BG theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Do người yêu cầu giải quyết việc dân sự đều xin vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M thì thấy: Quá trình tham gia tố tụng, anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M đều có lời khai xác định: Ngày 11/3/2013, chị Nguyễn Thị Lệ M và anh Nguyễn Hồng S đăng ký kết hôn tại UBND phường TX, thành phố BG và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống, chị M và anh S sinh được 2 người con chung là Nguyễn Minh Tr sinh ngày 05/9/2013 và Nguyễn Sơn T1, sinh ngày 18/11/2014. Tháng 6/2014, anh S đi chấp hành án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Trại giam QN, xã H, thị xã ĐT, tỉnh QN nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 6/2014, chị M về nhà đẻ sinh sống. Trong thời gian ly thân với anh S, chị M có quan hệ tình cảm với anh Trần Thanh T. Ngày 05/10/2017, chị sinh một bé gái, đặt tên là Nguyễn Minh A. Khi chị M sinh cháu Minh A, chị và anh S vẫn là vợ chồng hợp pháp nên giấy khai sinh của cháu Minh A thể hiện tên bố là Nguyễn Hồng S và tên mẹ là Nguyễn Thị Lệ M. Tháng 6/2020, chị M, anh T có đề nghị Trung tâm phân tích ADN&Công nghệ di truyền xét nghiệm ADN giữa anh T và cháu M. Tại bản kết quả xét nghiệm ADN của anh T và cháu Minh A kết luận: Cháu Nguyễn Minh A có quan hệ huyết thống với ông Trần Thanh T. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M về việc xác định anh Trần Thanh T là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
Về lệ phí giải quyết viêc dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh S, anh T và chị M được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xác định anh Trần Thanh T sinh năm 1990 là bố đẻ của cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 05/10/2017 theo Giấy khai sinh số 43/21018 ngày 22/2/2018 của UBND phường TX, thành phố BG, tỉnh BG.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M đều được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố BG có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BG có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Anh Nguyễn Hồng S, anh Trần Thanh T và chị Nguyễn Thị Lệ M có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND TP.BG; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Phương Thảo |