- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Căn khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 365, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2022/QĐST-DS | Quận 3, ngày 08 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Phú Oanh
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Quốc Thông – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Tuyết Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 429/2021/TLST-DS ngày 17/5/2021 về ‘‘Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 50/2022/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số 372/13 đường T , Phường y, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị N và Phan Thị Hoài G, cùng địa chỉ liên hệ 122/46/20 đường B, Phường X, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 19/4/2021, bản tự khai ông Nguyễn Hồng L trình bày:
Bà Bùi Thị Mỹ D, sinh năm 1980 là vợ của ông Nguyễn Hồng L theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 017, quyển số 01/2001 đăng ký ngày 12/3/2001 tại Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai người có một con chung, là trẻ Nguyễn Minh H sinh ngày 17/02/2003. Trong quá trình chung sống vợ chồng ông L bà D có xảy ra nhiều mâu thuẫn và nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Sau đó bà D bỏ đi từ khoảng năm 2016 đến nay đã là 05 năm không rõ tung tích hay nhận được bất kỳ thông tin nào về bà D. Ông L và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần, có đăng tải trên các thông tin đại chúng để tìm kiếm những vẫn không rõ tung tích. Nay ông L yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Bùi Thị Mỹ D mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự cũng như tại phiên họp Thẩm phán, thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc giải quyết đơn yêu cầu. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Hồng L về việc tuyên bố một người mất tích đối với bà Bùi Thị Mỹ D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Hồng L có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Bùi Thị Mỹ D, sinh năm 1980, địa chỉ cư trú cuối cùng 372/13 đường T, Phường y, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của ông Nguyễn Hồng L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị N, bà Phan Thị Hoài G có đơn xin giải quyết vắng mặt. Xét việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự, vì vậy Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt bà Phạm Thị N và bà Phan Thị Hoài G, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 01 ngày 12/3/2001 của Ủy ban nhân dân Phường 10, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Hồng L và bà Bùi Thị Mỹ D đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Căn cứ Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 68 Bộ luật dân sự thì ông Nguyễn Hồng L có quyền tuyên bố một người mất tích đối với bà Bùi Thị Mỹ D.
Căn cứ kết quả trả lời xác minh của Công an Phường 10, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “Hộ ông Nguyễn Hồng L và bà Bùi Thị Mỹ D đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2018. Hiện tại địa chỉ 372/13 đường T, Phường y, Quận z (số mới 372/15...) là gia đình anh Nguyễn Trí Hùng ...không có quan hệ với bà Bùi Thị Mỹ D”. Căn cứ kết quả xác minh trên có đủ cơ sở xác định bà Bùi Thị Mỹ D có nơi cư trú cuối cùng tại: 372/13 đường T, Phường y, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh và đã đi khỏi địa phương từ năm 2018 cho đến nay không có tin tức.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ việc, người yêu cầu đã thực hiện thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo Quyết định số 236/2021/QĐ-TA ngày 02/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 3 đã đăng thông tin tìm kiếm trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên đài phát thanh và báo trung ương. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức của bà Bùi Thị Mỹ D.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự:
“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.”.
Từ những căn cứ nêu trên và các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định: Bà Bùi Thị Mỹ D biệt tích từ năm 2018, nơi cư trú cuối cùng của bà D tại số 372/13 đường T, Phường y, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm ông L nộp đơn yêu cầu thì bà D đã biệt tích trên 02 năm. Vì vậy xét yêu cầu của ông Nguyễn Hồng L là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về xác định ngày mất tích của bà Bùi Thị Mỹ D. Bà D đi biệt tích từ năm 2018 và theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định: “nếu không xác định được ngày..., tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”. Nghĩa là thời hạn 02 năm được tính từ ngày 01/01/2018, nên ngày bà D mất tích được xác định là ngày 01/01/2021.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Hồng L phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 365, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Hồng L.
Tuyên bố: Bà Bùi Thị Mỹ D, sinh ngày 26/10/1980, nơi cư trú cuối cùng tại số 372/13 đường T, Phường y, Quận z, Thành phố Hồ Chí Minh đã mất tích. Ngày mất tích của bà Bùi Thị Mỹ D được xác định là ngày 01/01/2021.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: là 300.000 đồng ông Nguyễn Hồng L phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/00033167 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Hồng L đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: ông Nguyễn Hồng L có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định./.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu - VKSND Quận 3; - TAND Tp.HCM; - UBND P10, Quận 3, Tp.HCM; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Phú Oanh |