- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hồ Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 07/2021/QĐST-DS | TP. Quảng Ngãi, ngày 27 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI.
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Kim Ân
Thư ký phiên họp: Ông Trần Quí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 506/2020/TLST-VDS ngày 10-12-2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-VDS ngày 12 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị M, sinh năm 1982; địa chỉ: Đội 5, thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chị M có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 01-12-2020 và quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu chị Hồ Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn T, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 05/12/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình mà có mà có tính cờ bạc gây nợ nần rồi bỏ nhà đi từ năm 2014 cho đến nay, không nói rõ lý do; bản thân chị M và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không liên lạc được và cũng không biết anh T hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Để thực hiện thủ tục ly hôn với anh T và giải quyết các vấn đề về dân sự có liên quan đến anh T. Nay chị M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn T, sinh năm 1982; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
Chị Hồ Thị M trình bày giữa chị và anh T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc quản lý tài sản của anh Nguyễn T.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng yêu cầu và thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ việc Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã tuân thủ và chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị M, tuyên bố anh Nguyễn T, sinh năm 1982; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích. Buộc chị Hồ Thị M phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được xem xét, thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn T mất tích của chị Hồ Thị M, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật khi giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Nguyễn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quyền yêu cầu tuyên bố mất tích: Theo Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 92, Quyển 01/2012 ngày 05 tháng 12 năm 2012 của UBND xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh (nay là thành phố Quảng Ngãi), tỉnh Quảng Ngãi thể hiện chị Hồ Thị M là vợ của anh Nguyễn T. Do đó, chị M có quyền yêu cầu tuyên bố anh T mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự: Tại đơn xin xác nhận của chị Hồ Thị M đề ngày 16-11-2020 có xác nhận của Công an xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi thể hiện: Anh Nguyễn T, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đã vắng mặt tại địa phương từ năm 2014 cho đến nay, hiện không rõ ở đâu. Kể từ ngày anh T bỏ nhà đi cho đến nay chị M và gia đình đã tìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Nguyễn T.
Ngày 25-12-2020, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 09/2020/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm đối với anh Nguyễn T, thông báo tìm kiếm đối với anh Nguyễn T được đăng tin liên tục trên ba số báo ra hàng ngày của Trung ương vào các ngày 30, 31- 12-2020 và ngày 01-01-2021, được phát thanh ba ngày liên tục trên đài phát thanh Trung ương vào các ngày 05, 06 và 07-01-2021; đồng thời được đăng tin trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Từ ngày thông tin tìm kiếm một người mất tích của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đối với anh Nguyễn T được phát sóng đầu tiên trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam và nhắn tìm trên Báo nhân dân cho đến nay là hơn 04 tháng vẫn không có tin tức gì về anh Nguyễn T.
Như vậy, anh Nguyễn T đã biệt tích 02 (hai) năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hoặc đã chết mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó việc chị Hồ Thị M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn T mất tích là có cơ sở, nên được chấp nhận.
Về quản lý tài sản chung của anh Nguyễn T: Người yêu cầu chị Hồ Thị M trình bày giữa chị và anh T trong thời gian sinh sống vợ chồng với nhau không có tài sản chung và không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về chi phí tố tụng: Người yêu cầu chị Hồ Thị M phải chịu 4.500.000 đồng tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn T trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị M đã nộp và chi phí xong.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị M phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 385 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hồ Thị M về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
Tuyên bố anh Nguyễn T, sinh năm 1982; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
- Về chi phí tố tụng: Chị Hồ Thị M phải chịu 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn T, chị M đã nộp và chi phí xong.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Hồ Thị M phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006417 ngày 10-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Quảng Ngãi; - Chi cục THADS TP. Quảng Ngãi; - UBND xã T, TP. Q; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Phan Thị Kim Ân |