- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp thừa kế tài sản"
- Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
- Căn cứ chính? Điều 105 Bộ luật Dân sự; Điều 116 Luật Nhà ở; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN Số: 07/2021/QĐHG-DS | Quận Ngô Quyền, ngày 06 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thẩm phán ra quyết định: Bà Lê Thị Hậu
Căn cứ vào các điều 105, 612, 613, 660 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 116 của Luật Nhà ở năm 2014;
Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 18 tháng 8 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án dân sự tranh chấp chia di sản thừa kế, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
- Người bị kiện:
+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; nơi cư trú: Phường H, quận L, thành phố Hải Phòng;
+ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1968; nơi cư trú: Đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng;
+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1974; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,
XÉT THẤY:
Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
- Người bị kiện:
+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; nơi cư trú: Phường H, quận L, thành phố Hải Phòng;
+ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1968; nơi cư trú: Đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng;
+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1974; nơi cư trú: Phường V, quận N, thành phố Hải Phòng;
2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:
* Về di sản thừa kế, các đương sự thống nhất xác nhận (phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được):
- Về nguồn gốc di sản: Cụ Nguyễn Văn T chết năm 2003, cụ Trần Thị N chết năm 2018. Quá trình chung sống vợ chồng cụ Nguyễn Văn T và Trần Thị N có tài sản hợp pháp là căn hộ tại địa chỉ số 8CT5 A5 phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Trước đây, căn hộ trên thuộc khu tập Vạn Mỹ do Tổng Công ty Xây dựng Công trình thủy quản lý (nay là Công ty cổ phần Đầu tư và xây dựng Công trình thủy, có trụ sở tại số 173 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng). Năm 1981, cụ Nguyễn Văn T và cụ Trần Thị N được Tổng Công ty Công trình thủy phân phối cho hai cụ (là cán bộ nghỉ hưu) để ở theo Quyết định số 01/HCQT ngày 20/9/1981. Năm 1994, cụ Nguyễn Văn T và cụ Trần Thị N được Công ty thanh lý căn hộ trên theo Quyết định số 743/VP-TKNO ngày 27/01/1994. Giá bán là 32m2 x 20.000 đồng = 2.240.000 đồng (có phiếu thu kèm theo), kèm theo căn hộ là gian bếp có diện tích 12 m2.
- Về hiện trạng di sản: Căn hộ của cụ Nguyễn Văn T và cụ Trần Thị N tại địa chỉ 8CT5 A5 phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có diện tích (qua thẩm định thực tế) là: là 54,3632 m2, trong đó: Diện tích 2 phòng là 32m2 (đã có quyết định thanh lý và phiếu thu tiền với diện tích này), kèm theo căn hộ là gian bếp và nhà về sinh sử dụng riêng của căn hộ là 12 m2. Phần diện tích hành lang giữa hai phòng và ban công trước nhà có diện tích 10,3632 m2 do gia đình tự phá dỡ tường ngăn giữa hai gian phòng và cơi nới ban công để thêm diện tích sử dụng, phần diện tích này nằm trong diện tích sử dụng riêng của căn hộ không liên quan đến hộ khác; tuy nhiên chủ sử dụng chưa nộp nghĩa vụ tài chính cho cơ quan thẩm quyền quản lý đối với phần diện tích mở rộng này. Hiện trạng sử dụng toàn bộ căn hộ ổn định không có tranh chấp với ai. Căn hộ trên hiện thuộc dự án Cải tạo chung cư Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Giá trị căn hộ là 600.000.000 (sáu trăm triệu đồng) đồng.
* Về hàng thừa kế, các đương sự thống nhất xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn T và cụ Trần Thị N gồm 5 người là: Bà Nguyễn Thị Kim H; bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị X.
* Các đương sự thỏa thuận chia di sản thừa kế như sau:
- Giao toàn bộ di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T và cụ Trần Thị N là Căn hộ tại 8CT5 A5 phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có tổng diện tích 54,3632 m2 (trong đó: diện tích hai phòng là 32m2 đã có quyết định thanh lý và phiếu thu tiền với diện tích này, kèm theo căn hộ là gian bếp và nhà về sinh sử dụng riêng của căn hộ là 12 m2; diện tích mở rộng thêm nằm trong không gian riêng của căn hộ là 10,3632 m2 - chưa nộp nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích này) cho bà Nguyễn Thị Kim H toàn quyền sở hữu, sử dụng.
Bà Nguyễn Thị Kim H được toàn quyền hưởng các quyền lợi của chủ sở hữu liên quan đến căn hộ, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến phần diện tích mở rộng thêm của căn hộ là 10,3632 m2 khi thực hiện dự án Cải tạo chung cư Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng theo quy định của Luật nhà ở và các quy định khác liên quan theo luật định.
- Bà Nguyễn Thị Kim H không phải thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho các thừa kế còn lại là bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị X.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.
5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Lưu: Hồ sơ vụ việc, TA. | THẨM PHÁN Lê Thị Hậu |