- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Phạm Văn H: Tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm 1976 (Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng) là người mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2021/QĐDS-ST | An Dương, ngày 29 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Minh Huế
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Ngọc Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2021/TLST-VDS ngày 20 tháng 01 năm 2021 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 16/2021/QĐST-VDS ngày 21 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Lê Thị T, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong Đơn yêu cầu, tại Bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là anh Phạm Văn H trình bày: Anh và chị Lê Thị T kết hôn với nhau do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 1995. Sau khi kết hôn, anh và chị T về chung sống tại thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm đánh cãi chửi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 10 năm 2012, chị T đã bỏ nhà đi. Trước khi đi, chị T không nói cho anh biết chị T đi đâu. Sau khi chị T bỏ đi, anh đã tìm kiếm chị T ở nhiều nơi, anh đã đến gia đình bố, mẹ đẻ chị T, họ hàng và bạn bè chị T để tìm kiếm, nhưng không ai biết chị T cư trú ở đâu. Từ khi chị T bỏ đi đến nay, chị T không lần nào trở về gia đình, chị T cũng không liên lạc điện thoại, không gửi thư cho anh. Nay anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T là người mất tích để anh ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị T có 02 con chung là Phạm Thị T1, sinh năm 1995 và Phạm Minh Q, sinh năm 2001. Các con chung đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, những người tiến hành tố tụng và người yêu cầu đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Chị Lê Thị T đã đi khỏi nơi cư trú từ tháng 10 năm 2012, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng việc tìm kiếm chị T không có kết quả. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3, Điều 27; điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39; các điều 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, đề nghị Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H, tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng là người mất tích. Về con chung và tài sản chung: Anh Phạm Văn H không yêu cầu, nên không giải quyết. Về lệ phí: Anh Phạm Văn H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự, ý kiến đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện An Dương nhận định:
Chị Lê Thị T là người bị yêu cầu tuyên bố là người mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng nên căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương.
Xét yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị T đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng từ tháng 10 năm 2012. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị Lê Thị T theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực việc chị T còn sống hay đã chết. Chị Lê Thị T đã biệt tích hơn 02 năm liền nên căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Văn H, tuyên bố chị Lê Thị T là người mất tích.
Về con chung và tài sản chung: Anh Phạm Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3, Điều 27; điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39; khoản 4, Điều 143; khoản 1, Điều 149; các điều 370, 372; 387, 388 và 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1, Điều 68 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 6, 9; khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Phạm Văn H: Tuyên bố chị Lê Thị T, sinh năm 1976 (Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng) là người mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự để sung công quỹ Nhà nước. Anh Phạm Văn H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự theo Biên lai thu tiền số 13011 ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, nên anh H không phải nộp nữa.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự An Dương; - Người yêu cầu; - UBND xã Đ; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, HCTP. | Trương Minh Huế |