- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "NYC: Nông Xuân T, NCQLNVLQ: TRần Thị R"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của anh Nông Xuân T đối với chị Trần Thị R, sinh 1993, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2020/QĐST-VDS | Krông Năng, ngày 25 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Văn Dũng.
Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Ngọc – thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đăng Khoa: Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 49/2020/ TLST-VDS ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 08/2020/QĐMPH-VDS ngày 14 tháng 9 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nông Xuân T – sinh 1991;
Địa chỉ: Thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị R – sinh 1994.
Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ngày 24 tháng 02 năm 2020 anh Nông Xuân T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk tuyên bố chị Trần Thị R, sinh năm 1993, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk mất tích với lý do: Anh Nông Xuân T và chị Trần Thị R có quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/10/2010. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống với nhau tại thônTam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk. Chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã nên chị R đã bỏ nhà đi cũng như rời khỏi địa phương từ tháng 10 năm 2012 cho đến nay. Anh T đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm; xác minh tại Công an xã Ea T, huyện Krông N; yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông N thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng không rõ chị R ở đâu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N tham gia phiên họp, phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án đã đúng với quy định của pháp luật và đề nghị căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự, các Điều 149, 370, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nông Xuân T, tuyên bố chị Trần Thị R mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông N nhận định:
. Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu của anh Nông Xuân T về việc yêu cầu tuyên bố chị Trần Thị R mất tích, Tòa án nhận thấy yêu cầu của anh Nông Xuân T thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung của yêu cầu: Anh Nông Xuân T và chị Trần Thị R có quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/10/2010 nên là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk. Từ tháng 10/2012 cho đến nay chị R đã bỏ đi khỏi địa phương mà không khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương, cũng như không báo cho anh T biết. Anh T cũng đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm, xác minh tại Công an xã Ea T, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông N thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng không biết hiện nay chị R ở đâu. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đã ra quyết định thông báo tìm kiếm đối với chị Trần Thị R gửi đến các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương: thông tin tuyên truyền trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam và báo công lý. Đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo tìm kiếm chị R nhưng Tòa án nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk vẫn không nhận được thông tìn gì về chị Trần Thị R. Vì vậy, anh Nông Xuân T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trần Thị R mất tích là có đủ căn cứ nên cần chấp nhận đơn của anh Nông Xuân T.
Các vấn đề khác: Anh Nông Xuân T không yêu cầu nên không xem xét.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nông Xuân T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của anh Nông Xuân T đối với chị Trần Thị R, sinh 1993, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn Tam Đ, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên bố chị Trần Thị R mất tích.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nông Xuân T phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng mà anh Nông Xuân T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002927 ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND H. Krông N; -Chi cục THADS H. Krông N; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) ĐỖ VĂN DŨNG |