- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "việc dân sự công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Đình T và chị Hà Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:07/2020/QĐST-HNGĐ | Thanh Hóa, ngày 30 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:Bà Lê Thị Phương Thanh;
Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp:
Bà Cù Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2020/TLST-HNGĐ ngày 25/02/2020 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Trần Đình T- Sinh năm 1987(vắng mặt);
Địa chỉ: Bản P, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Hà Thị N- Sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Bản P, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Công ty điện tử Minh H, quận Đ, Đài Loan;
Đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Đình T.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai,anh Trần Đình T và chị Hà Thị N thống nhất trình bày:
Về hôn nhân: Anh Trần Đình T và chị Hà Thị N kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn là do bất đồngquan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau và không có tiếng nói chung.
Nay anh chị đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy anh chị yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho vợ chồng anh chị.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên các cháu là Hà Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011, cháu thứ 2 tên là Hà Trần Bảo N – sinh ngày 14/02/2015. Nay ly hôn vợ chồng thống nhất giao cháu Hà Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Hà Trần Bảo N – sinh ngày 14/02/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Toán và chị N không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng có khối tài sản chung là :Diện tích đất ở 62,3m2thửa số 169, tờ bản đồ số 02, bản đồ địa chính xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, địa chỉ thửa đất: tại Bản P, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, do UBND huyện Q cấp giấy CNQSD đấtsố CĐ 046861 ngày 28/6/2016 đứng tên Trần Đình T và Hà Thị N.Nay ly hôn vợ chồng thống nhất thỏa thuận giao cho anh Trần Đình T được quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất trên.
Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hà Thị N và anh Trần Đình T thỏa thuận thống nhất chị N ủy quyền cho anh T thay mặt chị giải quyết việc ly hôn theo quy định của pháp luật; Chị N có đơn yêu cầu gải quyết vắng mặt. Anh T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.
Tại phiên họp ngày 17/3/2020, VKS Nhân dân tỉnh Thanh Hóa yêu cầu tạm ngưng phiên họp với lý do cần thiết phải xác định lại tình trạng thửa đất đứng tên chung của hai vợ chồng, lời khai của cháu Hà Trần Đình T do cháu đã trên 07 tuổi; TAND Tỉnh Thanh Hóa Quyết định tạm ngừng phiên họp, yêu cầu đương sự cung cấp các chứng cứ trên;
Ngày 25/3/2020 TAND tỉnh Thanh Hóa nhận được Văn bản xác nhận hiện trạng sử dụng đất của anh T và chị N và Quyết định về việc hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của UBND huyện Q đối với cháu Hà Trần Đình T. Theo đó, hiện nay thửa đất đứng tên anh T và chị N không có tranh chấp, không được cầm cố, thế chấp với tổ chức tín dụng, ngân hàng nào; Về phía cháu Hà Trần Đình T là người khuyết tật nặng hiện đang được hưởng trợ cấp xã hội theo Quyết định số 2028/QĐ-UBND ngày 02/11/2018 của UBND huyện Q;
Tại phiên họp hôm nay anh Trần Đình T đã có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 397 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đình T và chị Hà Thị N.Người yêu cầu phải chịu lệ phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Việc hôn nhân và gia đình này có đương sự là chị Hà Thị N đang ở nước ngoài, sinh sống tại Đài Loan,nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm b,điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Ngày 17/3/2010 TAND tỉnh Thanh Hóa tạm ngừng phiên họp do phải thu thập thêm tài liệu chứng cứ, theo yêu cầu của VKSND Tỉnh Thanh Hóa với lý do cần thiết phải yêu cầu các đương sự cung cấp xác nhận của UBND xã S, huyện Q về hiện trạng tài sản chung là thửa đất đứng tên anh Trần Đình T và chị Hà Thị N; bản khai của cháu Hà Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011 (cháu đã trên 7 tuổi). Xét thấy yêu cầu của VKSND tỉnh Thanh Hóa là phù hợp với quy định tại điều 259 của Bộ luật tố tụng dân sự nên TAND tỉnh Thanh Hóa đã quyết định tạm ngừng phiên họp.
Ngày 25/3/2010 TAND tỉnh Thanh Hóa đã nhận được Xác nhận của UBND xã S huyện Q, xác nhận tình trạng thửa đất đứng tên anh T, chị N hiện không có tranh chấp, thế chấp, cầm cố với tổ chức tín dụng, ngân hàng hoặc cá nhân nào. Đối với cháu Hà Trần Đình T hiện đang hưởng trợ cấp dành cho người khuyết tật nặng nên việc lấy lời khai của cháu là không thực hiện được, mặt khác anh T và chị N đã thống nhất anh cháu T, chị N nuôi cháu N, đây là sự tự nguyện của các đương sự do vậy cần chấp nhận theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Đình T và chị Hà Thị N đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ Luật Tố tụng dân sự, nên phiên họp được tiến hành vắng mặt hai anh chị.
. Về nội dung:
Về hôn nhân: AnhTrần Đình Tvà chị Hà Thị N kết hôn tự nguyện, được cấp giấy CNĐKKH, do vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không tìm thấy tiếng nói chung. Vợ chồng quyết định ly hôn và yêu cầu Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị. Xét thấy yêu cầu của anh T và chị N là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Điều212 Bộ luật tố tụng dân sự, nên TAND tỉnh Thanh Hóa công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Đình T và chị Hà Thị N.
Về con chung: Anh T, chị N cùng thống nhất: Vợ chồng có hai con chung là: cháu Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011 và cháu Hà Trần Bảo N – sinh ngày 14/02/2015. Nay ly hôn vợ chồng anh chị thống nhất giao cháu Hà Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu Hà Trần Bảo N – sinh ngày 14/02/2015 giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T và chị N không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Việc thỏa thuận của anh T chị N là hoàn toàn phù hợp khi giao cháu gái cho chị nuôi, cháu trai cho anh nuôi, nên TAND Tỉnh Thanh Hóa chấp nhận sự thỏa thuận này.
Về tài sản: Công nhận sự tự thỏa thuận: Vợ chồng có khối tài sản chung là:Diện tích đất ở 65,3m2 tại Bản P, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, do UBND huyện Q cấp giấy CNQSD đấtsố CĐ 04681 ngày 28/6/2016 đứng tên Trần Đình T và Hà Thị N.Nay ly hôn vợ chồng thống nhất thỏa thuận giao cho anh Trần Đình Tđược quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất trên.
Về lệ phí: AnhTrần Đình T tự nguyện chịutoàn bộ tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với qui định.
Các nội dung thỏa thuận trên của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 29; điểm b khoản 1 Điều 37; Điều 212; khoản 2 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 397 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình;
1.Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Đình T và chị Hà Thị N.
2. Về con chung: Công nhận vợ chồng có hai con chung: Cháu Hà Trần Đình T - sinh ngày 16/11/2011 và Hà Trần Bảo N – sinh ngày 14/02/2015. Công nhận sự thỏa thuận: Anh T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Hà Trần Đình T, chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Hà Trần Bảo N. Anh T và chị N không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh T và chị N được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở, nhưng anh T và chị N cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của nhau.
3. Về tài sản: Công nhận sự tự thỏa thuận: Vợ chồng có khối tài sản chung là: Diện tích đất ở 65,3m2 ,thửa số 169, tờ bản đồ số 02, tại Bản P, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, do UBND huyện Q cấp giấy CNQSD đất số CĐ 04681 ngày 28/6/2016 đứng tên Trần Đình T và Hà Thị N.Nay ly hôn vợ chồng thống nhất thỏa thuận giao cho anh Trần Đình T được quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất trên.
4. Về lệ phí: Áp dụng khoản 2 Điều 149 Bộ Luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;
Anh T chịu lệ phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2018/006990 ngày 25/02/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại HN; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã S; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Lê Thị Phương Thanh |