vanban.org

Quyết định 07/2020/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 28/02/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M.

Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Nguyễn Quốc Đăng Khoa, sinh ngày 04/9/2018 cho chị Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Quốc M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về lệ phí giải quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M năm 2020"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2020/QĐST-HNGĐHà Tĩnh, ngày 28 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Đình Thông

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2019/TLST-HNGĐ ngày 25/12/2019 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 10/2020/QĐ-TA ngày 18/02/2020 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

1. Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 06/12/1987

Địa chỉ: Thôn Châu L, xã Kỳ C, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh

2. Anh Nguyễn Quốc M, sinh ngày 21/11/1980

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Châu L, xã Kỳ C, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Mỹ.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo đơn yêu cầu ly hôn; bản tự khai của chị Nguyễn Thị Hồng T và đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai của anh Nguyễn Quốc M trình bày thống nhất như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 02/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Đồng, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đến năm 2018 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cải cọ nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên ngày càng có sự khác biệt về suy nghĩ, lối sống nên không còn quan tâm đến nhau. Đến năm 2019, anh Nguyễn Quốc M đi xuất khẩu lao động tại Mỹ, do khoảng cách về địa lý, vợ chồng không có thời gian để bên nhau hàn gắn những mâu thuẫn dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt, không tâm nhau và không còn tình cảm với nhau. Hiện tại anh M đang sinh sống lao động tự do tại Mỹ, chị T đang sinh sống tại Việt Nam. Anh M và chị T đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên thống nhất thuận tình ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Quốc Đăng K, sinh ngày 04/9/2018, từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay cháu ở với chị T, Chị T và anh M thống nhất thỏa thuận giao con chung Nguyễn Quốc Đăng K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh M không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Quốc M có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và uỷ quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Trần Thị O (là chị dâu anh M), CMND số 183550; địa chỉ: Thôn Châu L, xã Kỳ C, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Quốc M hiện đang sinh sống tại Mỹ. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an số 1569/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì anh Nguyễn Quốc M đã xuất, nhập cảnh 11 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 01/8/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Anh Nguyễn Quốc M có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Trần Thị O (là chị dâu anh M), CMND số 183550; địa chỉ: Thôn Châu L, xã Kỳ C, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Nguyễn Quốc M theo thủ tục chung

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M hạnh phúc được một thời gian đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn do anh bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cải cọ nhau. Năm 2019 anh M đi xuất khẩu lao động tại Mỹ nên vợ chồng không có điều kiện, thời gian để hàn gắn những mâu thuẫn nên dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt và không còn tình cảm với nhau. Nay, các đương sự đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M không đạt được mục đích đó.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, chị Nguyễn Thị Hồng T Và anh Nguyễn Quốc M đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh M có 01 con chung là Nguyễn Quốc Đăng K, sinh ngày 04/9/2018, từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đến nay cháu ở với chị Nguyễn Thị Hồng T, được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, anh Nguyễn Quốc M hiện đang sinh sống tại Mỹ không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị T và anh M đã thống nhất giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh M không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận này của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần nên cần căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh Nguyễn Quốc M.

2. Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Nguyễn Quốc Đăng Khoa, sinh ngày 04/9/2018 cho chị Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Quốc M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị Hồng T (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0001772 ngày 25/12/2019 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ