- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của bà Nguyễn Thị T. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C, sinh năm 1954; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2020/QĐST-DS Ngày: 26-8-2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Phong.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn C; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 13-7-2020, bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn C, sinh năm 1954 được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1973. Tuy nhiên, từ khi chung sống như vợ chồng đến nay, bà và ông C không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Từ năm 2015 ông C bỏ nhà đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó đến nay, bà và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp để tìm kiếm ông C nhưng vẫn không có tin tức gì. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C để giúp bà tìm kiếm thông tin của ông C.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C, sinh năm 1954, nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Bà Nguyễn Thị T được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn C tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1973. Từ khi chung sống với nhau như vợ chồng đến nay, bà T và ông C không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, do quan hệ vợ chồng giữa ông C và bà T được xác lập trước ngày 03-01-1987 nên ông C và bà T vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ theo quy định tại Điều 381 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì bà Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông C.
Người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú là ông Nguyễn C có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thụ lý, giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Căn cứ theo đơn xin xác nhận của bà Nguyễn Thị T đề ngày 13-7-2020 (có xác nhận của Trưởng Công an xã Đức Lân) có căn cứ xác định: Ông Nguyễn C đã bỏ nhà đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2015 đến nay. Theo trình bày của bà Nguyễn Thị T thì bà và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của ông C.
Tính đến thời điểm bà Nguyễn Thị T nộp đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C thì ông C đã biệt tích trên 06 tháng liền. Do đó, việc bà T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông C là có căn cứ theo quy định tại Điều 64 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Nguyễn C: Trong đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Nguyễn C nên Tòa án không giải quyết.
Bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị miễn tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí hợp lệ. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, các điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên họp là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 149, 370, 371, 372, 381, 383, 385 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 64 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37, điểm đ khoản 1 Điều 12, các điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của bà Nguyễn Thị T. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C, sinh năm 1954; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
- Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn C sẽ được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Chi phí cho việc đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng do bà Nguyễn Thị T chịu.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Thị T không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Mộ Đức; - Chi cục THADS huyện Mộ Đức; - Người yêu cầu; - UBND xã Đ; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Phong |