vanban.org

Quyết định 07/2020/QĐ-TA

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/01/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh TN đối với:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh ngày 07/8/1990 HKTT: xóm Tr.T 2, xã V, huyện P, tỉnh TN. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh TN đối với:
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 07/2020/QĐ-TATN, ngày 21 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thu Huệ

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Nam Thái

Ngày 21/01/2020, tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh TN, Tòa án nhân dân thành phố TN tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 13/QĐ-TA ngày 16/01/2020 đối với:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh ngày 07/8/1990

HKTT: xóm Tr.T 2, xã V, huyện P, tỉnh TN.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; dân tộc: Nùng, tôn giáo: không; trình độ học vấn 0/12; nghề nghiệp: Không, chưa tiền án, tiền sự. Con ông Hoàng Văn T1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị N sinh năm, sinh năm 1959, có vợ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013. Nhân thân: Năm 2017 cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh TN, hết thời hạn ngày 20/5/2018

Được giao cho Cơ sở Tư vấn và Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh TN quản lý từ ngày 30/12/2019 đến nay. (Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1.Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đào Quang Sinh, chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng Lao động Thương binh và xã hội TP TN

2.Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN: bà Hoàng Thị Lệ Xuân, chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T và do bản thân anh Hoàng Văn T không biết chữ nên được anh Nguyễn Văn Kh,sinh năm 1971, địa chỉ tổ 12, phường T.Th, thành phố TN viết hộ bản T1 trình trên cơ sở lời khai của của anh T như sau: Hồi 7 giờ 30 phút ngày 30/12/2019 anh T sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà anh Trần Đức Ng, thuộc tổ 20, phường T.Th, thành phố TN, hình thức sử dựng là chích, loại ma túy là Heroine. Anh T nghiện ma túy từ năm 2016, năm 2017 được đi cai nghiện bắt buộc đến năm 2018 hết thời hạn, hiện nay anh T vẫn thường xuyên sử dụng ma túy, một ngày 2 lần, mỗi lần 50.000đ, thời điểm sử dụng ma túy gần đây nhất là lúc 7 giờ 30 ngày 30/12/2019, cùng ngày, Công an phường T.Th, thành phố TN đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép của anh T. Tại biên bản xác minh ngày 31/12/12019 của Công an xã V, huyện P xác định xác định nơi cư trú của anh Hoàng Văn T, có hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện P từ tháng 5/2019. Hoàng Văn T thường xuyên đi lang thang vắng mặt ở địa phương, không có việc làm, là đối tượng nghiện chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 02/01/2020 đối với Hoàng Văn T của Cơ sở tư vấn và điều trị ma túy tỉnh TN xác định: Anh Hoàng Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Heroine.

Tại phiên họp xét, Đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TN có ý kiến: Đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, thời gian là 13 đến 17 tháng đối với anh Hoàng Văn T theo Công văn số 30/LĐTB&XH ngày 16/01/2020 về việc xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN có ý kiến: Quá trình xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hoàng Văn T; quá trình lập hồ sơ, cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng thủ các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T là 16 đến 18 tháng.

Tại phiên họp hôm nay, người bị đề nghị là anh Hoàng Văn T có ý kiến: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân anh T nghiện ma túy vẫn chưa cai được. Quá trình lập hồ sơ anh không biết chữ, nhưng được nghe, được khai và nhận thức được việc nghiện ma túy là vi phạm. Anh T xác định thường xuyên lang thang, vắng mặt tại địa phương, không có nơi cư trú, không có việc làm ổn định. Anh T nhất trí việc chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị hội đồng xem xét áp dụng thời gian cai nghiện thấp nhất đối với anh.

XÉT THẤY

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TN.

- Về thời hiệu: Thực hiện đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013 ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Khoản 1 Điều 3, Điều 23, 29, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014 của UBTV Quốc hội 13.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thấy: Anh T nghiện ma túy từ năm 2016, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 30/12/2019, tên loại ma túy sử dụng là Heroine. Phù hợp với phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở tư vấn và điều trị tỉnh TN và Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép chất ma túy của Công an phường T.Th đối với anh Hoàng Văn T.

Xét về nhân thân của anh T được thể hiện như sau: Anh T nghiện ma túy từ năm 2016, năm 2017 được đi cai nghiên tại Cơ sở tư vấn và điều trị tỉnh TN, chấp hành xong năm 2018 tuy nhiên anhT không tự rèn luyện bản thân, cai nghiện để có sức khỏe lao động trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục sử dụng ma túy gây tổn hại sức khỏe của bản thân, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Tại phiếu trả lời xác minh về việc xác định nơi cư trú ngày22/8/2019 Công an xã V, huyện P, tỉnh TN trả lời: Anh Hoàng Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Tr.T 2, xã Vỗ Tranh, huyện P, tỉnh TN, đồng thời lời khai anh T thể hiện: Hiện tại anh T không có nghề nghiệp, thường xuyên đi khỏi nhà, lang thang, cụ thể ngày 30/12/2019 anh T đang nằm tại nhà của anh Trần Đức Nghĩa, địa chỉ tổ 20, phường T.Th, thành phố TN thì bị Công an phường T.Th kiểm tra, anh T thừa nhận vừa sử dụng ma túy và thường xuyên đi lang thang.

Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định Hoàng Văn T là :”Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định”. Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TN đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những đánh giá trên:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013;

Căn cứ Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ đề nghị của Phòng Lao động thương binh xã hội thành phốTN, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phốTN;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh TN đối với:

Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh ngày 07/8/1990

HKTT: xóm Tr.T 2, xã V, huyện P, tỉnh TN.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (mười ba) tháng, kể từ ngày 30/12/2019.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/02/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố TN chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TN, tỉnh TN đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh TN tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ