- Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buôc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 19; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện…
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮKLẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2020/QĐ-TA. | Buôn Đôn, ngày 08 tháng 6 năm 2020. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK.
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Bùi Xuân Sơn.
Thư ký phiên họp: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
Ngày 08 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành phiên họp sơ thẩm công khai xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/QĐ-TA ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với:
Đối với: Nguyễn Hoài L.
Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông: Nguyễn Hồng X và bà Bùi Thị T.
Vắng mặt tại phiên họp không có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện: Ông Y – Chức vụ: Trưởng phòng – có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Tuấn A- Kiểm sát viên – có mặt.
3. Những người khác: Không.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Hoài L nghiện ma túy đã được Chủ tịch UBND xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số: 25/QĐ-UBND ngày 21/02/2020 với thời hạn 03 tháng. Vào ngày 17/4/2020 Nguyễn Hoài L sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 21/4/2020 thì bị Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk phát hiện và bị lập hồ sơ vi phạm hành chính.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 21/4/2020 của Bệnh viện đa khoa thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có kết quả: Nguyễn Hoài L dương tính với chất ma túy Methamphetamin.
Ngày 13/5/2020 Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Hoài L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk có ý kiến: Sau khi đối chiếu hồ sơ và văn bản kiểm tra của Phòng Tư pháp huyện B đề nghị đưa Nguyễn Hoài L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện B xem xét áp dụng đưa Nguyễn Hoài L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 (một) năm.
Tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Hoài L vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của người bị đề nghị không ảnh hưởng đến phiên họp nên vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp việc dân sự, kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán xem xét, quyết định giải quyết việc dân sự đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 19; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoài L với thời hạn 01 (một) năm.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoài L do Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk lập là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo đúng quy định tại Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm. Do đó, tính từ ngày 21/4/2020 thì thời hiệu vẫn còn.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Nguyễn Hoài L đã trên 18 tuổi nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ vi phạm của Nguyễn Hoài L và các ý kiến của những người tham gia phiên họp thì thấy việc đưa Nguyễn Hoài L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhằm giúp người nghiện sớm tái hòa nhập cộng đồng và góp phần hạn chế tỷ lệ người nghiện trên địa bàn. Xét việc đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk tại phiên họp là có cơ sở cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 19; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
1.Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Đối với: Nguyễn Hoài L.
Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông: Nguyễn Hồng X và bà Bùi Thị T.
2. Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 01 (một) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - CA huyện; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh; - VKSND huyện; - Phòng LĐ- TB &XH huyện; - UBND xã T, huyện B; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN ((đã ký) Bùi Xuân Sơn |