vanban.org

Quyết định 07/2019/QĐST-VDS — Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 09/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với các nội dung sau:

Về số nợ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V và ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T đều xác nhận tính đến hết ngày 20 tháng 9 năm 2018 ông ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 2113-LAV-201300075/HĐTD/176 ngày 27 tháng 2 năm 2013 tổng số tiền là: 492.631.2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Công nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với các nội dung sau:
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƢƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2019/QĐST-VDSAn Dương, ngày 09 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Tươi

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2019/TLST- VDS ngày 10 tháng 4 năm 2019 về việc “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2019/QĐST-VDS ngày 18 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên họp giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-VDS ngày 26 tháng 4 năm 2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V; địa chỉ: Số 02 L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội (gọi tắt là Ngân hàng)

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn C- Chức vụ: Phó giám đốc Chi nhánh A Hải Phòng là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Văn bản ủy quyền số 227/UQ-NHNoAH-KHKD ngày 17 tháng 02 năm 2018); có mặt tại phiên họp.

+ Ông Đinh Ngọc C, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Ông Đinh Ngọc C đã ủy quyền cho bà Phạm Thị T theo Giấy ủy quyền ngày 24 tháng 12 năm 2018; có mặt tại phiên họp.

+ Bà Phạm Thị T, sinh năm 1961; đều có địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V trình bày:

Ngày 27 tháng 02 năm 2013, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn A, thành phố Hải Phòng (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V, chi nhánh A Hải Phòng, sau đây gọi tắt là Ngân hàng) đã cho bà Phạm Thị T và ông Đinh Ngọc C vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số: 2113-LAV-201300075/HĐTD/176, cụ thể như sau: Ngày giải ngân: 28 tháng 2 năm 2013; ngày đến hạn: 28/8/2018; số tiền vay là 300.00.00 đồng (Ba trăm triệu đồng); mục đích vay vốn: Kinh doanh sắt thép vật liệu xây dựng; Lãi suất tại thời điểm cho vay: 13%/năm và khi giải ngân bằng hình thức tiền mặt.

Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán, bà Phạm Thị T và ông Đinh Ngọc C đã thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là diện tích 496 m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 515, tờ bản đồ số 03 tại thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 648997, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00995 do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 22 tháng 5 năm 2009 đứng tên chủ sử dụng là ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T. Việc thế chấp tài sản bảo đảm đã được lập thành hợp đồng thế chấp, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Hiện tại tài sản thế chấp không có tranh chấp, không nằm trong quy hoạch; ngoài ông C và bà T ra không có ai khác cũng đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp không có thay đổi, vẫn giữ nguyên hiện trạng so với thời điểm thế chấp.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng: Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T đã được Ngân hàng giải ngân cho vay số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) theo nội dung hợp đồng tín dụng đã ký. Tuy nhiên, ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T đã vi phạm hợp đồng không thanh toán nợ gốc và lãi nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 28/8/2018. Tính hết ngày 20 tháng 9 năm 2018 ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 492.631.250đ (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó số nợ gốc là 300.000.000đ, số nợ lãi trong hạn là 192.631.250đ.

Ngân hàng đã khởi kiện ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T tại Tòa án nhân dân huyện A yêu cầu ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Ngày 26 tháng 12 năm 2018, ông Nguyễn Thanh T, Hòa giải viên - Trung tâm hòa giải, đối thoại - Tòa án nhân dân huyện A đã tiến hành hòa giải giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V với ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T. Các bên tham gia hòa giải đã thỏa thuận như sau:

1. Về số nợ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V và ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T đều xác nhận tính đến hết ngày 20 tháng 9 năm 2018 ông ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 2113-LAV-201300075/HĐTD/176 ngày 27 tháng 2 năm 2013 tổng số tiền là: 492.631.250đ (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó số nợ gốc là 300.000.000đ, số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng.

2. Về số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018: Kể từ ngày 22 tháng 9 năm 2018, số tiền lãi phát sinh từ số nợ trên được tính theo lãi suất theo hợp đồng tín dụng số 2113-LAV-201300075/HĐTD/176 ngày 27 tháng 02 năm 2013

3. Về nghĩa vụ thanh toán: Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải thanh toán toàn bộ số tiền 492.631.250đ (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó số nợ gốc là 300.000.000đ, số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng.

4. Về phương thức và thời hạn thanh toán: Hai bên thống nhất thỏa thuận ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả cho Ngân hàng ba Quý đầu mỗi quý là 50.000.000đ/quý (thanh toán vào ngày thứ 15 của tháng cuối cùng của mỗi Quý). Chậm nhất đến ngày 15/12/2019, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả tiếp cho Ngân hàng số nợ gốc còn lại và số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

Sau khi thanh toán toàn bộ nợ gốc theo đúng thời hạn trên, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T tiếp tục phải thanh toán số nợ lãi, khi đó Ngân hàng sẽ xem xét giảm một phần nợ lãi cho ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định về xét giảm lãi của Ngân hàng trong từng thời kì.

5. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ ở bất kỳ kỳ hạn trả nợ nào đã nêu ở trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thi hành phát mại quyền sử dụng diện tích 496m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 515, tờ bản đồ số 03,tại thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 648997, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 00995 QSDĐ do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 22/5/2009 đứng tên chủ sử dụng là ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T để thu hồi toàn bộ số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng (chi tiết tại Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng 0769.CVN/2013.TCTS, quyển số 01-AP.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 02 năm 2013)

Trong trường hợp phát mại tài sản nếu trị giá tài sản sau khi phát mại lớn hơn số tiền gốc và lãi mà ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả thì Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán số tiền còn dư cho Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T. Nếu trị giá tài sản sau khi phát mại nhỏ hơn số tiền gốc và lãi mà Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả thì ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.

6. Về tạm ứng lệ phí, lệ phí: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V có trách nhiệm nộp tạm ứng lệ phí và chịu cả lệ phí theo quy định của pháp luật giải quyết vụ việc dân sự, nếu các bên có yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận theo quy định pháp luật.

Nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện A công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo biên bản hòa giải ngày 26 tháng 12 năm 2018 giữa Ngân hàng với ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc giải quyết yêu cầu của người yêu cầu:

Đề nghị Tòa án căn cứ các điều 417, 419 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngày 26 tháng 12 năm 2018 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án A. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Đây là việc dân sự: "Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án", nên theo quy định tại khoản 7, Điều 27; điểm s, khoản 2, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

Xét yêu cầu của người yêu cầu: Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ thẩm quyền và năng lực hành vi dân sự; có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải; nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba; các bên tham gia thỏa thuận hòa giải đều có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả thỏa thuận hòa giải nên thỏa thuận của các bên đương sự được Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí: Các đương sự đã thỏa thuận Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn V phải chịu cả lệ phí việc dân sự nên Ngân hàng phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự để sung vào ngân sách Nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7, Điều 27; điểm s, khoản 2, Điều 39; các điều 143, 149, 367; 369; 370, 417; 419 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6; Khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,

Công nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với các nội dung sau:

- Về số nợ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V và ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T đều xác nhận tính đến hết ngày 20 tháng 9 năm 2018 ông ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T còn nợ Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 2113-LAV-201300075/HĐTD/176 ngày 27 tháng 2 năm 2013 tổng số tiền là: 492.631.250đ (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó số nợ gốc là 300.000.000đ, số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng.

- Về số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018: Kể từ ngày 22 tháng 9 năm 2018, số tiền lãi phát sinh từ số nợ trên được tính theo lãi suất theo hợp đồng tín dụng số 2113-LAV-201300075/HĐTD/176 ngày 27 tháng 02 năm 2013

- Về nghĩa vụ thanh toán: Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải thanh toán toàn bộ số tiền 492.631.250đ (Bằng chữ: Bốn trăm chín mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi đồng), trong đó số nợ gốc là 300.000.000đ, số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng.

- Về phương thức và thời hạn thanh toán: Hai bên thống nhất thỏa thuận ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả cho Ngân hàng ba Quý đầu mỗi quý là 50.000.000đ/quý (thanh toán vào ngày thứ 15 của tháng cuối cùng của mỗi Quý). Chậm nhất đến ngày 15/12/2019, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả tiếp cho Ngân hàng số nợ gốc còn lại và số nợ lãi trong hạn là 191.529.167đ, số nợ lãi quá hạn là 1.102.083 đồng và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21 tháng 9 năm 2018 cho đến khi ông Đinh Ngọc C, bà Phạm Thị T thanh toán toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

Sau khi thanh toán toàn bộ nợ gốc theo đúng thời hạn trên, ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T tiếp tục phải thanh toán số nợ lãi, khi đó Ngân hàng sẽ xem xét giảm một phần nợ lãi cho ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định về xét giảm lãi của Ngân hàng trong từng thời kì.

- Về xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ ở bất kỳ kỳ hạn trả nợ nào đã nêu ở trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thi hành phát mại quyền sử dụng diện tích 496m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 515, tờ bản đồ số 03,tại thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 648997, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 00995 QSDĐ do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 22/5/2009 đứng tên chủ sử dụng là ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T để thu hồi toàn bộ số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng (chi tiết tại Hợp đồng thế chấp tài sản công chứng 0769.CVN/2013.TCTS, quyển số 01-AP.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27 tháng 02 năm 2013)

Trong trường hợp phát mại tài sản nếu trị giá tài sản sau khi phát mại lớn hơn số tiền gốc và lãi mà ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả thì Ngân hàng có trách nhiệm thanh toán số tiền còn dư cho Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T. Nếu trị giá tài sản sau khi phát mại nhỏ hơn số tiền gốc và lãi mà Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải trả thì ông Ông Đinh Ngọc C và bà Phạm Thị T phải tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Ngân hàng Nông nghiêp và Phát triển Nông thôn V đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004172 ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A nên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V không phải nộp nữa.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ