vanban.org

Quyết định 07/2019/QĐPT-DS — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Long An Tuyên án 27/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLPT-DS ngày 02/01/2019 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1. Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Lê Thị Thanh T - Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLPT-DS ngày 02/01/2019 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 295 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2019/QĐ-PTLong An, ngày 27 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán:

1. Ông Phạm Phước Thiền

2. Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/DS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo như sau:

Ngày 15/10/2018, bị đơn là bà Huỳnh Thị K kháng cáo không đồng ý bản án dân sự sơ thẩm, cụ thể: Bà K yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/DS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là bà Huỳnh Thị K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Ngày 24/3/2019, bà K có “Đơn xin hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm” ngày 27/3/2019 với lý do bị bệnh tim.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Người kháng cáo là bà Huỳnh Thị K được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Bà K có “Đơn xin hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm” ngày 27/3/2019 với lý do bị bệnh tim. Xét thấy, theo “Toa thuốc mua” (bản photo) ngày 22/03/2019 thì thể hiện bà K có đến Bệnh viện nhân dân 115 khám bệnh tim và mua thuốc uống chứ không có nhập viện. Đây không thuộc trường hợp người kháng cáo vắng mặt lần thứ hai vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan phải hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 21/2019/TLPT-DS ngày 02/01/2019 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”. Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/DS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức có hiệu lực pháp luật.

Xét thấy, Tòa án cấp phúc thẩm đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo về việc mở lại phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng người kháng cáo là bà Huỳnh Thị K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Ngày 24/3/2019, bà K có “Đơn xin hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm” ngày 27/3/2019 với lý do bị bệnh tim. Theo “Toa thuốc mua” (bản photo) ngày 22/03/2019 thì thể hiện bà K có đến Bệnh viện nhân dân 115 khám bệnh tim và mua thuốc uống chứ không có nhập viện. Xét đây không thuộc trường hợp người kháng cáo vắng mặt lần thứ hai vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên phải hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án này ở Tòa án cấp sơ thẩm, bà K cũng đã nhiều lần xin hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử sơ thẩm vụ án này cũng với lý do trên. Do đó, căn cứ vào các Điều 289, 295 và khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLPT-DS ngày 02/01/2019 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988.

1.2. Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2009.

1.3. Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 2012.

Người đại diện theo pháp luật của cháu T, cháu N: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988; cùng cư trú tại: Ấp 6, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Thanh T: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978; cư trú tại: Số 69/2 Ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Long An. (Là người đại diện theo ủy quyền, Văn bản ủy quyền ngày 25/3/2019).

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962.

2.2. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1961.

Cùng cư trú tại: Ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

Cùng tạm trú tại: Ấp 4, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn C: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1961. (Là người đại diện theo ủy quyền, Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2017).

II. Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2018/DS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

III. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Huỳnh Thị K phải nộp 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007135 ngày 16/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức nên không phải nộp tiếp.

IV. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

V. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự có hiệu lực thi hành án./.

Cỡ chữ