- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đàm Văn N - Vũ Thị Thanh A"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 23/2019/QĐST-DS ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện B.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2019/QĐ-PT | Vĩnh Phúc, ngày 25 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thái
Ông Nguyễn Vĩnh Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Sơn - Kiểm sát viên
Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 23/2019/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2019
Tòa án nhân dân huyện B đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đàm Văn N, sinh năm 1964; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968
Đều có địa chỉ: TDP C, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H: Ông Đàm Văn N (Văn bản ủy quyền ngày 27/3/2019).
- Bị đơn: Chị Vũ Thị Thanh A, sinh năm 1981
Địa chỉ: TDP C, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đàm Công Đ, sinh năm 1977
Địa chỉ: TDP C, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 05 tháng 8 năm 2019, nguyên đơn ông Đàm Văn N kháng cáo: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy Quyết định đình chỉ vụ án số 23/2019/QĐST-DS của Tòa án nhân dân huyện B, với lý do: Ông không đi nộp được tiền tạm ứng chi phí tố tụng là do ông phải đưa vợ là bà Nguyễn Thị H đi điều trị.
XÉT THẤY:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Đàm Văn N làm trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.
Về nội dung: Ngày 18/3/2019, Tòa án nhân dân huyện B thụ lý vụ án dân sự về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất theo đơn khởi kiện của ông Đàm Văn N, bà Nguyễn Thị H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/5/2019 và ngày 21/6/2019 ông Đàm Văn N có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản có tranh chấp trong vụ án. Xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là cần thiết nên ngày 04/7/2019 Tòa án nhân dân huyện B có Công văn gửi cơ quan có thẩm quyền cử cán bộ và tính dự kiến số tiền chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngày 08/7/2019, Cơ quan có thẩm quyền có công văn phúc đáp cho Tòa án về số tiền dự kiến chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngày 11/7/2019, Tòa án nhân dân huyện B ban hành thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 01/TB-TA cho ông Đàm Văn N, nội dung: Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phải đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện B … nộp số tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 6.000.000đồng. Hết thời hạn trên, nếu ông Ngư không nộp cho Tòa án tiền tạm ứng chi phí tố tụng mà không có lý do chính đáng, thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thông báo trên được Tòa án nhân dân huyện B giao trực tiếp cho ông Đàm Văn N vào ngày 11/7/2019. Sau khi nhận thông báo, ông Đàm Văn N đã không thực hiện việc nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo đúng thời hạn như đã thông báo. Ngày 25/7/2019 (sau ngày hết thời hạn theo thông báo nộp chi phí tố tụng 08 ngày) Tòa án nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 23/2019/QĐST-DS theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo đơn kháng cáo ngày 05/8/2019, lời khai ngày 14/10/2019 của ông Đàm Văn N tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và tại phiên họp ngày hôm nay ông Ngư trình bày: Sau khi nhận thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng do ông bận đi làm, khi về nhà thì bận đưa vợ ông là bà Nguyễn Thị H đi khám. Ông Ngư không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì về việc đưa bà Hương đi khám, điều trị bệnh, hơn nữa ông Ngư trình bày đưa bà Hương đi khám hết một buổi sáng, không nhớ rõ ngày đưa đi. Vì vậy, việc ông Ngư không nộp tạm ứng chi phí tố tụng không phải là trường hợp bất khả kháng, không phải lý do chính đáng. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện B đã đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ nên kháng cáo của ông Ngư không được chấp nhận.
Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Đàm Văn N, giữ nguyên Quyết định đình chỉ số 23/2019/QĐST-DS ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện B.
Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 23/2019/QĐST-DS ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện B.
2. Về án phí: Ông Đàm Văn N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0003576 ngày 22/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND huyện B; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Thị Thu Hà |