- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích chị Nguyễn Ngọc O"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị O: Hủy bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2015/QĐ –TA ngày 13/10/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, đối với chị Trần Thị O.
- Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH ------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2018/QĐST- DS | Uông Bí, ngày 19 tháng 11 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v : Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ –TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lương Thanh Thúy.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên họp: Ông
Nguyễn Xuân Kiêu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/TLST- DS ngày 22 tháng 10 năm 2018 về việc “Yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2018/QĐST- DS ngày 02 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị O – Sinh năm 1989.
Nơi ĐKNKTT: Tổ 4, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà Vũ Thị T – sinh năm 1959.
Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Anh Dương Đức L, sinh năm 1984.
Nơi ĐKNKTT: Tổ 4, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có lý do).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 08 tháng 10 năm 2018, đơn sửa đổi bổ sung ngày 16/10/2018, biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2018, quá trình giải quyết việc, người yêu cầu chị Trần Thị O trình bày:
Chị Trần Thị O và anh Dương Đức L kết hôn năm 2004 tại Uỷ ban nhân dân phường P, thành phố Uông Bí. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng trú tại tổ 4, khu L, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và có hai con chung là cháu Dương Hoài L, sinh ngày 05/9/2004, cháu Dương Khánh L, sinh ngày 10/8/2009. Đến cuối năm 2012, do mâu thuẫn vợ chồng chị O đã bỏ nhà ra Móng Cái sinh sống. Khoảng 1 tháng sau kể từ ngày bỏ nhà đi thì chị nhận được tin anh L vi phạm pháp luật, bị cơ quan công an bắt giữ. Từ đó, do buồn chán chị O đã cắt đứt liên lạc với gia đình nội, ngoại và những người thân khác. Đầu tháng 10 năm 2018, chị O trở về địa phương và được biết sau 03 năm kể từ ngày chị bỏ đi, do không có thông tin gì về chị, nên bà Vũ Thị T (mẹ chồng của chị O) đã làm thủ tục yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tuyên bố chị mất tích. Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đã tiến hành các thủ tục nhắn tin, thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả. Vì vậy, ngày 13/10/2015, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đã ban hành Quyết định số 04/2015/QĐ – TA, tuyên bố chị mất tích. Sau khi trở về địa phương, chị O đã đến Công an phường P, thành phố Uông Bí để trình diện. Ngày 08/10/2018 chị gửi đơn yêu cầu đến Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, đề nghị hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích số 04/2015/QĐ –TA, để chị sớm ổn định cuộc sống tại địa phương. Ngoài ra, chị O không yêu cầu gì khác.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 29 tháng 10 năm 2018 của anh Dương Đức L, biên bản lấy lời khai, biên bản nhận dạng ngày 25/10/ 2018 của bà Vũ Thị T và tại biên bản nhận dạng, biên bản xác minh ngày 31/10/2018 của ông Trần Đại H, bà Hoàng Thị H (bố mẹ đẻ chị O) thể hiện: Năm 2012 chị O bỏ nhà đi và không còn giữ liên lạc với gia đình, người thân nên năm 2015 anh L đã ủy quyền cho mẹ là bà Vũ Thị T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trần Thị O mất tích (khi đó anh L đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam Quảng Ninh), Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của bà T. Nay chị O đã trở về và có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định tuyên bố chị O mất tích, quan điểm của anh L, bà T, ông H và bà H cùng nhất trí với yêu cầu này của chị O.
Tại biên bản nhận dạng ngày 31/10/2018, đại diện Uỷ ban nhân dân phường P nơi chị O đăng ký nhân khẩu thường trú xác nhận đúng người trong ảnh, người có đơn yêu cầu hủy Quyết định số 04 ngày 13/10/2015 là chị Trần Thị O, sinh năm: 1989. ĐKNKTT: Tổ 4, khu L, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị O là vợ anh L và là con dâu bà T. Năm 2012, chị O đã bỏ nhà đi và hiện nay đúng là chị O đã trở về.
Tại phiên họp, chị O và T giữ nguyên quan điểm, yêu cầu như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến giải quyết việc dân sự:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn; Người có đơn yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị O, về việc hủy Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2015, ngày 13/10/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 13/10/2015, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí ra Quyết định số 04/2015/QĐ –TA, tuyên bố chị Trần Thị O mất tích. Ngày 08/10/2018, chị O có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí hủy quyết định này vì chị đã trở về địa phương. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39 – Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí có thẩm quyền giải quyết yêu cầu dân sự của chị O.
- Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Đức L vắng mặt có đơn trình bày lý do và thể hiện quan điểm; sự vắng mặt của anh L không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ việc nên căn cứ vào khoản 3 Điều 367 – Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
. Về nội dung yêu cầu: Theo Quyết định số 04/2015/QĐ- TA ngày 13/10/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí chấp nhận đơn yêu cầu của bà Vũ Thị T, tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị O sinh ngày 01/3/1989; nơi ĐKNKTT: tổ 4, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, nay chị Trần Thị O đã trở về, có đơn yêu cầu hủy bỏ Quyết định trên. Tòa án thấy rằng việc trở về của chị O đã được chính quyền địa phương và anh Dương Đức L, bà Vũ Thị T cùng với những người trong gia đình xác nhận, thông qua biên bản nhận dạng, biên bản xác minh của Tòa án và việc hủy bỏ quyết định mất tích là cần thiết để đảm bảo đầy đủ quyền công dân của người mất tích đã trở về. Vì vậy, căn cứ vào Điều 390 – Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 70 của Bộ luật Dân sự có đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của chị Trần Thị O.
. Về lệ phí: Chị Trần Thị O phải nộp lệ phí dân sự theo quy định tại Điều 149, 150 – Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 371, 372 – Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ :
- Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39; khoản 3 Điều 367; Điều 390 – Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Khoản 1 Điều 70 của Bộ luật Dân sự.
- Điều 37, danh mục lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. .
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị O: Hủy bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 04/2015/QĐ –TA ngày 13/10/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, đối với chị Trần Thị O.
2. Về lệ phí: Chị Trần Thị O phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000598 ngày 15/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị O, bà Vũ Thị T có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, anh Dương Đức L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - VKSND TP. Uông Bí. - Người yêu cầu; - Người có QLNVLQ; - Chi cục THADS TP. Uông Bí; - UBND phường Phương Đông TP.Uông Bí; - Công an phường Phương Đông TP. Uông Bí; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | Lương Thanh Thúy |