vanban.org

Quyết định 07/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/04/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Bùi Thanh N.

Tuyên bố: Ông Trần Sỹ V, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng mất tích. Về tài sản: Bà Bùi Thanh N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bô ông Trần Sỹ V mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Bùi Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2018/QĐDS-ST
Ngày 10-4-2018
V/v tuyên bố một người mất tích.
Quận Ngô Quyền, ngày 10 tháng 4 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Bích Phượng - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Đào Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đào Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 10/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2017 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 177/2018/QĐPH-ST ngày 02 tháng 4 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thanh N; địa chỉ: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết:

Bà Bùi Thanh N yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Sỹ V, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về tố tụng dân sự quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Bùi Thanh N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Sỹ V. Đây là quan hệ pháp luật về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về thời hạn giải quyết: Ngày 03 tháng 11 năm 2017, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý đơn yêu cầu; đến ngày 02 tháng 4 năm 2018, Tòa án ra Quyết định mở phiên họp. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết việc dân sự theo đúng thời hạn quy định tại Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Bà Bùi Thanh N và ông Trần Sỹ V, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 18/3/1987 tại Ủy ban nhân dân phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận và có hai con chung là Trần Sỹ Mạnh, sinh ngày 04/11/1987 và Trần Sĩ Hải Minh, sinh ngày 14/3/2000. Đến năm 2002 giữa bà N và ông V phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2006, ông V đã bỏ nhà đi biệt tích. Gia đình và bà N đã đi tìm ông V bằng các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng đến nay không có kết quả. Đến nay đã hơn 10 năm mà không có thông tin gì về việc ông V còn sống hay đã chết. Nay bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Sỹ V mất tích theo quy định của pháp luật và không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Xét yêu cầu của bà Bùi Thanh N yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Sỹ V:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 770/2017/QĐ-TBTK ngày 20 tháng 11 năm 2017 đối với ông Trần Sỹ V.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của ông Trần Sỹ V, Ủy ban nhân dân phường Cầu Đất và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo đúng quy định pháp luật.

Ngày 05 tháng 12 năm 2017, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao đã đăng tin tìm kiếm ông Trần Sỹ V.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã đăng tin tìm kiếm ông Trần Sỹ V.

Báo Công lý là báo hàng ngày của trung ương đã đăng trong ba số liên tiếp (Số 96 ngày 01/12/2017, số 97 ngày 06/12/2017 và số 98 ngày 08/12/2017) và Đài Tiếng nói Việt Nam đã thông báo trong ba số liên tiếp các ngày 12/12/2017, ngày 13/12/2017 và ngày 14/12/2017);

Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm ông Trần Sỹ V lần đầu tiên vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Trần Sỹ V còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thanh N về việc tuyên bố mất tích đối với ông Trần Sỹ V.

Ngày 02/4/2018 bà Bùi Thanh N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên họp, bà Bùi Thanh N vắng mặt, nhưng tại hồ sơ đã có lời khai phù hợp như nội dung nêu trên và bà N đề nghị Toà án tuyên bố một người mất tích đối với ông Trần Sỹ V. Vì vậy, xét thấy việc bà Bùi Thanh N có đơn xin giải quyết vắng mặt được quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 267, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, và đề nghị Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thanh N, tuyên bố ông Trần Sỹ V, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng mất tích và không giải quyết về tài sản. Về lệ phí: Bà Bùi Thanh N phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ và đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng: Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thanh N, tuyên bố ông Trần Sỹ V mất tích.

Về tài sản: Bà Bùi Thanh N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thanh N có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Về lệ phí: Bà Bùi Thanh N phải nộp lệ phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 267, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Bùi Thanh N.

Tuyên bố: Ông Trần Sỹ V, sinh năm 1963; nơi cư trú cuối cùng: Số 151 đường C, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng mất tích.

Về tài sản: Bà Bùi Thanh N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thanh N phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002095 ngày 03 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bà N đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thanh N được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tống đạt hợp lệ.

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối với những quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ