vanban.org

Quyết định 07/2018/QĐ-TA

TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 02/10/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đối với Phan Văn T; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1969; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện N, tỉnh B.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đối với Phan Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đối với Phan Văn T; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1969; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện N, tỉnh B.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGÂN SƠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2018/QĐ-TANgân Sơn, ngày 02 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Công.

2. Thư ký phiên họp: Ông Lý Sinh Hà-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2018/QĐ-TA ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Phan Văn T - Giới tính: Nam; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1969; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 4/10; Nguyên quán: xã V, huyện N, tỉnh B; Hộ khẩu thường trú và Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã V, huyện N, tỉnh B; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Phan Văn S; Con bà Nguyễn Thị H.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thái Hoàng - Trưởng Trưởng phòng Lao động – Thương binh &Xã hội huyện Ngân Sơn.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Vương Thị Nhung - Kiểm sát viên VKSND huyện Ngân Sơn.

3. Những người khác tham gia phiên họp: Không có.

NHẬN THẤY:

Ngày 04/9/2018, Tổ công tác cai nghiện của xã V, huyện N, tỉnh B tổ chức xét nghiệm kiểm tra chất ma túy đối với Phan Văn T; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1969; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện N, tỉnh B. Kết quả xét nghiệm dương tính với Heroin. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với ông Thái. Ông Phan Văn T đã có bản tường trình thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 03/9/2018, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích và hít. Tuy bản thân ông T đã được Ủy ban nhân dân xã V áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ông Phan Văn T đã được Ủy ban nhân dân xã V áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 25/6/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Đến ngày 25/9/2017, Ủy ban nhân dân xã V đã cấp giấy chứng nhận số: 13/GCN-UBND chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại cấp xã cho ông Phan Văn T.

Với hành vi vi phạm ngày 04/9/2018, Ủy ban nhân dân xã V đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phan Văn T.

Sau khi Phòng Tư pháp huyện Ngân Sơn kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, ngày 19/9/2018, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Ngân Sơn có công văn số: 82/LĐTBXH đề nghị Toà án nhân dân huyện Ngân Sơn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Văn T và bàn giao toàn bộ hồ sơ cho Toà án.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Văn T.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đồng thời nêu quan điểm có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Văn T.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phan Văn T thấy, hồ sơ được lập đầy đủ, đúng thẩm quyền, đúng trình tự theo Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ về việc quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của ông Phan Văn T đã được tổ công tác cai nghiện ma tuý của xã V phát hiện và Phan Văn T cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Ông Phan Văn T sử dụng trái phép chất ma tuý tuy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 25/6/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh B tuy nhiên ông T không lấy đó làm cơ hội sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Phan Văn T thấy: Ông T có nhân thân tương đối tốt, theo bản tóm tắt lý lịch của ông Phan Văn T do Công an xã V lập thể hiện ông T không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên ông T đã được Ủy ban nhân dân xã V áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 02 lần nhưng không tiến bộ, bản thân vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thời điểm sử dụng ma túy lần đầu từ năm 1987.

Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc, ông T đã tự nguyện tường trình hành vi vi phạm, thành thật hối lỗi, giúp cơ quan chức năng phát hiện sớm hành vi vi phạm do đó ông T được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của ông Phan Văn T đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Trong thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã ông T không có sự tiến bộ, sau khi kết thúc thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ông T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý do đó cần thiết phải đưa Phan Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp xét đại diện cơ quan đề nghị và Kiểm sát viên đều đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đối với ông Phan Văn T.

Căn cứ các Điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ; Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013;

Căn cứ các Điều 3, 22, 23, 29, 30 và Điều 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 13.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đối với Phan Văn T; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1969; Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện N, tỉnh B.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn có quyền kiến nghị, kháng nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động Thương binh &Xã hội huyện Ngân Sơn kết hợp với Công an huyện Ngân Sơn thi hành quyết định này.

Cỡ chữ