- Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮKLẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2018/QĐ-TA | Buôn Đôn, ngày 30 tháng 8 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK.
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Bùi Xuân Sơn.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/QĐ-TA ngày 21 tháng 8 năm 2018 đối với:
TÔ VĂN CHÍ Đ; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993.
Số CMND 241509465, ngày cấp....../......../.........; Nơi cấp...................................
Nghề nghiệp: Làm nông.
Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông Tô Văn T và bà Võ Thị H.
Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 16/2011/HSST và ngày 24/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 10/2014/HSST, đã được xóa án tích.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện: Ông Y – Chức vụ: Trưởng phòng – có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Tuấn A
- Kiểm sát viên – có mặt.
4. Những người khác: Không.
NHẬN THẤY:
Tô Văn Chí Đ là người nghiện ma túy đã được Chủ tịch UBND xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk đưa vào giáo dục tại xã theo Quyết định số: 12/QĐ-UBND ngày 08/01/2018, chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã theo Giấy chứng nhận số 139/GCN-UBND ngày 08/4/2018.
Vào ngày 03/7/2018 Tô Văn Chí Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang và lập biên bản vi phạm hành chính.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 03/7/2018 của Bệnh viện đa khoa Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tô Văn Chí Đ dương tính với ma túy Amphetamin và Methamphetamin.
Ngày 06/7/2018 UBND xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk lập hồ sơ đề nghị đưa Tô Văn Chí Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Ý kiến của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Đắk Lắk: Sau khi đối chiếu hồ sơ và văn bản kiểm tra của Phòng tư pháp huyện B đề nghị áp dụng đề nghị đưa Tô Văn Chí Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện B xem xét áp dụng đưa Tô Văn Chí Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 (một) năm.
Tại phiên họp người bị đề nghị Tô Văn Chí Đ vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ do đó việc vắng mặt của người bị đề nghị không ảnh hưởng đến phiên họp nên vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp việc dân sự, kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán xem xét, quyết định giải quyết việc dân sự đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 19; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân, đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Văn Chí Đ với thời hạn 01 (một) năm.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Văn Chí Đ do UBND xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk lập là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo đúng quy định tại Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm. Do đó, tính từ ngày 03/7/2018 thì thời hiệu vẫn còn.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Tô Văn Chí Đ đã đủ 18 tuổi trở lên. Nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp là phù hợp. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của Tô Văn Chí Đ và các ý kiến của những người tham gia phiên họp thì thấy việc đưa Tô Văn Chí Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhằm giúp người nghiện sớm tái hòa nhập cộng đồng và góp phần hạn chế tỷ lệ người nghiện trên địa bàn theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh ĐắkLắk và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 19; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
TÔ VĂN CHÍ Đ; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993.
Số CMND 241509465, ngày cấp....../......../.........; Nơi cấp...................................
Nghề nghiệp: Làm nông.
Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông Tô Văn T và bà Võ Thị H.
2. Nơi chấp hành Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - CA huyện; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện; - Phòng LĐ- TB &XH huyện; - UBND xã C, huyện; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Bùi Xuân Sơn |