vanban.org

Quyết định 07/2017/QĐVDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị H tuyên bố: ông Vũ Xuân N , sinh năm 1950, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất tích.

Về lệ phí: bà Lương Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002716 ngày 30/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà H phải nộp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Lương Thị H và ông Vũ Xuân N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị H tuyên bố: ông Vũ Xuân N , sinh năm 1950, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07 /2017/QĐST-VDS
Ngày: 04/8/2017
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người
mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Với thành phần giải quyết việc dân sự :

Chủ tọa phiên họp: Bà Lý Thị Lệ Thủy – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Vương Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố B.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04/8/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2017/TLST-VDS ngày 04/01/2017 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 07/2017/QĐST-VDS ngày 26/7/2017.

[1]. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Lương Thị H - Sinh năm 1955. Trú tại: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Bà H có mặt).

[2]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Vũ Thị T. N , sinh năm 1977 (có mặt);

Trú tại: Số 66 Nguyễn Thị Định, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

+ Bà Vũ Thị T. Ng , sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt);

Trú tại: Số 73 Bạch Đằng, phường Phước Trung, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3].Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Theo đơn yêu cầu và lời trình bày của bà Lương Thị H tại phiên họp:

Sau thời gian quen biết, ông Vũ Xuân N và bà Lương Thị H tự nguyện chung sống và tổ chức lễ cưới từ năm 1976, đến năm 1979 ông bà mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Lễ, huyện Châu Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo giấy chứng nhận kết hôn số 268 quyển số 01 ngày 04/3/1979.

Sau khi kết hôn, ông N bà H sinh sống tại số nhà 2330 Thủ Lựu, ấp Phước Đức, xã Phước Lễ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai nay là số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; ông bà sinh hạ được 02 con chung là chị Vũ Thị Thanh Nga, sinh năm 1977 và chị Vũ Thị Thanh Nguyệt, sinh năm 1981. Cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc thời gian đầu,mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đầu năm 1981, ông N đã bỏ nhà ra đi để con chung cho bà H nuôi dưỡng. Sau khi ông N bỏ đi thì bà H có liên hệ với gia đình ông N tại nguyên quán ở thành phố Hải Phòng để hỏi thăm tin tức cũng như đăng báo tìm kiếm nhưng cũng không ai biết ông N ở đâu. Từ đó đến nay ông N không quay về hay liên lạc với vợ con và cũng không ai hay biết ông đang ở đâu. Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên bố ông Vũ Xuân N , sinh năm 1950, địa chỉ cư trú cuối cùng: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (số cũ 2330 Thủ Lựu, ấp Phước Đức, xã Phước Lễ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai) mất tích để bà làm đơn ly hôn với ông.

[4]. Bà Vũ Thị T. N và Bà Vũ Thị T. Ng trình bày:

Bà Nga, bà Nguyệt là con của ông Vũ Xuân N và bà Lương Thị H . ông Vũ Xuân N đã bỏ đi từ năm 1981 đến nay không có liên lạc với gia đình và các bà không biết hiện nay ông N đang làm gì, ở đâu. Bà Nga, bà Nguyệt đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H tuyên bố ông N mất tích.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự: xét đơn yêu cầu của bà Lương Thị H và các chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị Tòa án tuyên bố ông Vũ Xuân N - 1950, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất tích.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhận định:

- Về thẩm quyền giải quyết: bà Lương Thị H là vợ của ông Vũ Xuân N nên bà H có quyền yêu cầu tuyên bố ông Vũ Xuân N mất tích. ông N có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố B. Do đó, việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại khoản 3, Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung: Xét yêu cầu của bà H nhận thấy: Từ năm 1981 ông N bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có liên lạc với gia đình. Bà H và các con đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không ai biết ông N hiện ở đâu, còn sống hay chết. Theo xác nhận của Công an phường Phước Nguyên, thành phố B thì ông Vũ Xuân N trước đây có cư trú tại số 66 Nguyễn Thị Định, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhưng từ năm 1981 đến nay ông N đã bỏ đi khỏi địa phương, không khai báo địa chỉ nơi đến nên địa phương không biết hiện ông N đang ở đâu.

Theo yêu cầu của bà H, ngày 16/02/2017 Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ban hành Quyết định số 02/2017/QĐST-VDS về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Vũ Xuân N . Nội dung thông báo này đã được đăng công khai trên báo Công lý 3 số liên tiếp là các số 24 (1459), 25 (1460), 26 (1461) ngày 24, 29, 31/3/2017 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp từ ngày 23, 24, 25/3/2017 (theo hợp đồng thông báo – nhắn tin số 49NT/17/HĐTT-CNHCM ngày 20/3/2017). Tính đến hôm nay đã hơn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì về việc ông N còn sống hay đã chết.

Từ những căn cứ trên cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: ông Vũ Xuân N đã biệt tích từ năm 1981 đến nay (hơn 16 năm) không có liên lạc gì với gia đình mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm ông N theo quy định của pháp luật nhưng cũng không có bất cứ tin tức nào xác thực hiện ông N còn sống hoặc đang cư trú tại địa chỉ nào. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị H và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B về việc tuyên bố ông Vũ Xuân N mất tích.

Về việc quản lý tài sản của ông N : do bà H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về lệ phí: bà Lương Thị H phải nộp lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 361, 370, 371, 372, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị H tuyên bố: ông Vũ Xuân N , sinh năm 1950, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số 66 Nguyễn Thị Định, khu phố 2, phường Phước Nguyên, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất tích.

2. Về lệ phí: bà Lương Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002716 ngày 30/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà H phải nộp thêm 100.000đ (một trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp, thời hạn kháng cáo là 10 (mười) ngày tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ