vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 24/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Q, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: Lang thang (Không có nơi cư trú ổn định).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Tiến D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Q, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: Lang thang (Không có nơi cư trú ổn định).
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ – TAPhúc Yên, ngày 24 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Bích.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hiền.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ - TA ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Phạm Tiến D

Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 1983.

Hộ khẩu thường trú: Phường Q, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 12/12

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Phạm Thanh M và bà Phùng Thị N.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 2001 bị TAND thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”

Năm 2003 bị TAND thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Năm 2006 bị TAND thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Năm 2010 bị TAND thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Hiện đang lưu trú tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, từ ngày 31/3/2023 cho đến nay; Địa chỉ: Xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư - Phó trưởng phòng - Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Ông Triệu Minh Hà - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Phạm Tiến D bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên đề nghị Tòa án xem xét ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do sau:

Phạm Tiến D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 1998 đến nay, hiện sống lang thang không có nơi cư trú và không có nghề nghiệp ổn định. Tại bản tường trình ngày 30/3/2023, Phạm Tiến D đã thừa nhận ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại ngôi nhà bỏ hoang ven hồ Đại Lải thuộc thôn Đại Quang, xã N, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Heroine bằng hình thức chích ma túy vào cơ thể thì bị Công an xã N phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật và đưa Phạm Tiến D về trụ sở công an xã N để làm việc. Tại trụ sở Công an xã N D thừa nhận chưa từ bỏ được ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể của D là dương tính. Công an xã N đã lấy lời khai giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị các dạng thuốc phiện thay thế quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên D đã không đăng ký và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, Công an xã N đã lập hồ sơ đề nghị đưa Phạm Tiến D đi cai nghiện bắt buộc. Qua xác minh tại Công an phường Quỳnh Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và lời khai của bà Phùng Thị Nga mẹ đẻ D xác định: Phạm Tiến D thường xuyên vắng mặt tại địa phương nơi cư trú, gia đình và địa phương không biết D đi đâu, làm gì. Nguyện vọng của gia đình hoàn toàn nhất trí để các cơ quan chức năng đưa D đi cai nghiện bắt buộc, gia đình không có ý kiến gì. Do vậy, ngày 31 tháng 3 năm 2023 Chủ tịch UBND xã N đã ra Quyết định số: 99/QĐ- QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy, thời hạn quản lý kể từ ngày bàn giao đối tượng D cho Cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày 31/3/2023 đến khi người có thẩm quyền đưa D đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án.

Với hành vi nêu trên, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên có công văn đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên ý kiến và đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D.

Tại phiên họp, người bị đề nghị Phạm Tiến D thừa nhận sử dụng chất ma túy từ năm 1998, lần gần nhất sử dụng chất mà túy là ngày 30 tháng 3 năm 2023, thì bị Công an xã N, thành phố Phúc Yên lập biên vi phạm, đưa đi xét nghiệm và lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Tòa án xem xét giảm một phần thời gian chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Phúc Yên lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D với thời hạn từ 18 đến 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung tại khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Đối với Phạm Tiến D là đối tượng nghiện ma túy từ năm 1998, nhưng không có ý thức cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Bản thân D nhiều lần bị Tòa án kết án về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích.

Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D như đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên là cần thiết, có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, D luôn tự nguyện khai báo, thành khẩn hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần xem xét thời hạn đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với D từ 18 (Mười tám) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021; khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 28 Nghị định: 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 có hiệu lực từ ngày 01/02/2023 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Q, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: Lang thang (Không có nơi cư trú ổn định).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 31 tháng 3 năm 2023.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên có quyền kháng nghị; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên có quyền kiến nghị quyết định này; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Phúc Yên phối hợp với Công an thành phố Phúc có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Cỡ chữ