vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điều 95, Điều 96; 103, 104 khoản 2 Điều 105, Điều 107,108, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung ngày 13/11/2020, khoản 1 Điều 3, Điều 4 khoản 2 Điều 20, 24, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Điều 32 Luật phòng chống ma túy số 73…

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, tại thôn Kim Sơn, xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày đưa vào Cơ sở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điều 95, Điều 96; 103, 104 khoản 2 Điều 105, Điều 107,108, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung ngày 13/11/2020, khoản 1 Điều 3, Điều 4 khoản 2 Điều 20, 24, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Điều 32 Luật phòng chống ma túy số 73…
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TAThường Xuân, ngày 17 tháng 10 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Tâm

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Khánh

Ngày 17 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa tiến hành Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/2023/QĐ-TA ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Lê Xuân T, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn HL, xã NP, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Lê Xuân T và bà Quách Thị H; Tiền sự: Không. Tiền án: 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Người bị đề nghị Lê Xuân T (đề nghị vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Ông Cầm Bá Kình – Phó Phòng lao động - Thương binh và xã hội huyện Thường Xuân.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa:

Ông Đỗ Văn Nam – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lê Xuân T là đối tượng sử dụng ma túy (Heroin) từ năm 2017 cho đến nay với hình thức sử dụng là Chích, sử dụng ngày một lần.

Ngày 25/9/2023 Công an xã NP, huyện Thường Xuân đã lập Biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Xuân Tùng.

Ngày 02/10/2023, UBND xã NP, huyện Thường Xuân lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và Ban hành Quyết định số: 185/QĐ-QLNN ngày 02/10/2023 về việc quản lý người cai nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 06/10/2023, Ủy ban nhân dân xã NP, huyện TX ban hành Công văn số 01/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T.

Tại các Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cùng ngày 25/9/2023 của Trung tâm y tế huyện Thường Xuân, kết quả Lê Xuân T, có chất ma túy loại Morphin/heroine, dạng thuốc phiện, dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại các Bản tường trình và các Biên bản ghi lời khai cùng ngày 25/9/2023, Lê Xuân T trình bày: Bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2017 đến nay, lần gần nhất là ngày 24/9/2023, T sử dụng tại nhà.

Tại Công văn số: 67/ĐN- CNBB ngày 09/10/2023, Phòng lao động - Thương binh và xã hội có hồ sơ kèm theo, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Thường Xuân giữ nguyên quan điểm và đề nghị thời gian cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T từ 20 (hai mươi) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày đưa vào Cơ sở quản lý để tập trung cai nghiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp:

Về việc thiết lập hồ sơ: Đảm bảo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, giao, tống đạt văn bản tố tụng cho các cơ quan và người bị đề nghị, mở phiên họp đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Thống nhất ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội Thường Xuân, căn cứ Điều 95, 96, 103, 104, khoản 2 Điều 105, Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung ngày 13/11/2020, Điều 4 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Xuân T thời gian từ 21 (hai mươi mốt) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở kết quả tại phiên họp cũng như ý kiến phát biểu của những người tham gia phiên họp. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ.

XÉT THẤY:

1. Xét về thẩm quyền giải quyết:

Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện Thường Xuân đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng nghiện ma túy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/ UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.

2. Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T được lập đúng trình tự, thủ tục, được cơ quan có thẩm quyền thẩm định tính pháp lý của hồ sơ quy định của pháp luật.

Hành vi sử dụng ma túy của Lê Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, không những làm suy thoái về sức khỏe và đạo đức của bản thân mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, Lê Xuân T là người có đủ khả năng nhận thức tác hại của ma túy và hệ lụy của việc sử dụng ma túy nhưng vẫn vi phạm. Mặt khác Lê Xuân T đang có tiền án về Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải áp dụng mức thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp để T có thời gian cai nghiện, học tập tốt thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Ngày 02/10/2023 bà Quách Thị H mẹ đẻ của Lê Xuân T có Bản xác nhận về việc quản lý T cai nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa T đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp những người tham gia phiên họp đều thống nhất cần thiết phải đưa Lê Xuân T vào cơ sở cai nghiện tập trung mới đủ điều kiện chăm sóc, cai nghiện thời hạn cai nghiện là 24 (hai mươi bốn) tháng mới đủ thời gian cai nghiện đối với Lê Xuân T. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 95, Điều 96; 103, 104 khoản 2 Điều 105, Điều 107,108, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi bổ sung ngày 13/11/2020, khoản 1 Điều 3, Điều 4 khoản 2 Điều 20, 24, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Điều 32 Luật phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021; Điều 40, khoản 1 Điều 41,42,43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiệm ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, tại thôn Kim Sơn, xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày đưa vào Cơ sở quản lý để tập trung cai nghiện.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội

huyện Thường Xuân phối hợp Công an huyện Thường Xuân đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ