vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân Đ, sinh ngày 02/10/1989 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Số 95, đường T, xã S, thành phố B, tỉnh B).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kiến nghị và kháng nghị Quyết đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc Lê Xuân Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân Đ, sinh ngày 02/10/1989 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Số 95, đường T, xã S, thành phố B, tỉnh B).
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 30 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TATân Yên, ngày 24 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Ánh Dương

2. Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan Phương

Ngày 24/7/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết Đ mở phiên họp xem xét, quyết Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 06/QĐ-TA ngày 17/7/2020 đối với:

Anh Lê Xuân Đ, Giới tính: Nam

Sinh ngày 02/10/1989

Số CMND 121840101, ngày cấp 20/5/2013, nơi cấp: CA tỉnh Bắc Giang

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 12/12

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đã chấp hành xong Quyết Đ số 20/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 của UBND xã L về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã kể từ ngày 18/02/2020.

Tiền án: không; Tiền sự : không.

Con ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị C

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Thúy – Chuyên viên phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (đại diện theo ủy quyền).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 18/6/2020 và các lời khai tiếp theo, Lê Xuân Đ khai: Đ bị UBND xã L ra Quyết Đ số 20/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã L về việc sử dụng ma túy với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 18/02/2020. Sau khi chấp hành xong thời hạn 03 tháng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và được cấp giấy chứng nhận số 13/GCN-UBND ngày 18/5/2020 đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã L thì đến ngày 13/6/2020 Đ lại bị Công an xã L lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Ngày 18/6/2020 Đ bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Quá trình làm việc, Đ khai nhận sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2016 đến nay và ngày 05/5/2020 bị Công an xã L lập biên bản về sử dụng ma túy tổng hợp. Đ nhất trí và không có ý kiến gì về hồ sơ cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân Đ với thời gian là 24 tháng, do Đ không tự cai nghiện ma túy.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết Đ áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy Đ của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị chấp nhận quan điểm về việc đưa Lê Xuân Đ vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng do Đ nghiện ma túy và không tự cai nghiện được.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện viện kiểm sát, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

* Về thẩm quyền xem xét, quyết Đ: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xem xét, quyết Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân Đ do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết Đ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

* Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Lê Xuân Đ lập ngày 18/6/2020 do Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 15/7/2020 Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý hồ sơ xem xét, quyết Đ là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy Đ tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với Lê Xuân Đ đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên thấy: Lê Xuân Đ là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, Đ đã bị UBND xã L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã L theo Quyết Đ số 20/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 thời hạn là 03 tháng. Hết thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Lê Xuân Đ vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 18/6/2020 Trạm y tế xã L xác định Đ có nghiện ma túy (loại ma túy tổng hợp). Chứng tỏ Lê Xuân Đ là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của Đ là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Lê Xuân Đ đã vi phạm: khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1, khoản 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96; Điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để Lê Xuân Đ cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Cần chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và đại diện Viện kiểm sát, đưa Lê Xuân Đ đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang với thời hạn là 24 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Lê Xuân Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy Đ tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Lê Xuân Đ đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và đã được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết Đ trên. Theo quy Đ tại khoản 2 Điều 7 - Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính là: “…trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính…mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính…”. Chưa hết thời hạn 02 năm đối tượng Lê Xuân Đ lại vi phạm do vậy đối tượng phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy Đ tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết Đ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Xuân Đ, sinh ngày 02/10/1989 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Số 95, đường T, xã S, thành phố B, tỉnh B).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kiến nghị và kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Đối tượng Lê Xuân Đ (vắng mặt) có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T, tỉnh B, phòng Lao động

- Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B.

Cỡ chữ