vanban.org

Quyết định 06/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trung T 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trung T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trung T 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/QĐ-TABắc Sơn, ngày 05 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Víi thµnh phÇn tiÕn hµnh phiªn häp gåm cã:

1. Thẩm phán: Ông Vy Ngọc Linh.

2. Thư ký phiên họp: Ông Đổng Ngọc Ngoan. Thư ký Tòa án nhân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Ngày 05 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 06/2019/QĐ-TA ngày 26 tháng 6 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Trung T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1991.

Dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1971 và bà Lý Thị B, sinh năm 1971.

Vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động, thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Ninh H Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn (Theo giấy ủy quyền số: 11/GUQ-LĐTBXHDT ngày 05/7/2019 của Trưởng Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội- Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn). Có mặt

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn: Ông Lương Thanh H - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đại diện Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn trinh bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính như sau:

Nguyễn Trung T là người sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức sử dụng hít trực tiếp vào cơ thể qua đường mũi.

Ngày 19/12/2018 bị Công an lập biên bản vi phạm hành chính, qua xét nghiệm trạm y tế xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn kết luận Nguyễn Trung T có nghiện ma túy Hrôin.

Ngày 11/01/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ ra Quyết định số 06/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.

Ngày 11/01/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ ra Quyết định số 07/QĐ-UBND phân công người trực tiếp quản lý, giáo dục, giúp đỡ người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.

Ngày 12/4/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ cấp giấy chứng nhận số 01/GCN-UBND chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã.

Ngày 12/5/2019 bị Công an lập biên bản vi phạm hành chính, qua xét nghiệm trạm y tế xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn kết luận Nguyễn Trung T có nghiện ma túy Hrôin.

Ngày 31/5/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ ra Quyết định số 65/QĐ-UBND giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 26/6/2019 Phòng lao động, thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn có công văn số: 84/PLĐTBXH-DT, đề nghị Tòa án nhân dân huyện B đưa Nguyễn Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung T đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện theo đúng luật định, người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung T được thực hiện như sau:

Đối với các tài liệu trong hồ sơ đề nghị thể hiện, trong hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 12/5/2019 tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của người bị đề nghị và phiếu trả lời kết quản về việc xác định tình trạng người nghiện ma túy, ngày 12/5/2019 xác định Nguyễn Trung T nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng la Hêrôin; Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép; có bản tự khai, biên bản lấy lời khai của người bị đề nghị; các tài liệu xác minh người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định.

Hồ sơ có Công văn đề nghị của Phòng lao động, thương binh, Xã hội – Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn, đưa Nguyễn Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong hồ sơ tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Nguyễn Trung T thể hiện rõ về vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012.

Hồ sơ đã có Bản tóm tắt lý lịch và hành vi vi phạm pháp luật của người bị đề nghị đưa vao cơ sở cai nghiện bắt buộc, có đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 02 (Hai năm), kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này. Do đó, tính từ ngày 11/01/2019 thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh năm 1992, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm a khoản 1 Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng có nơi thường trú ổn định tại thôn Bó Đấy, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ và Phòng Lao Động, Thương binh, Xã hội- Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ.

Đối với trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đảm bảo theo quy định tại Điều 101 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung T là đầy đủ, hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Nguyễn Trung T cần đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, những hành vi trên của Nguyễn Trung T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp quản lý tại gia đình và cộng đồng nhưng không có tiến bộ. Hành vi này; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn huyện B.

Về việc tống đạt Quyết định mở phiên họp xem xét Quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính Tòa án đã trực tiếp phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ người bị đề nghị cư trú, đến tận gia đình (có xác nhận của chính quyền). Do vậy căn cứ theo Điều 1 Nghị định 04/2015/NĐ-HĐTP, ngày 24/12/2015 Tòa án vấn tiến hành mở phiên họp xem xét Quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính theo thủ tục chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị áp dụng đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét về nhân thân người bị đề nghị chưa có tiền án, tiền sự, bản thân là một người đã trưởng thành, nhưng không chịu tu dưỡng làm ăn, không nghề nghiệp nghiện ma túy.

Bản thân người bị đề nghị có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước (nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó cần phải đưa Nguyễn Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp hôm nay đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao đông, Thương binh, Xã Hội- Dân tộc huyện B, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa Nguyễn Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (Hai mươi bốn) tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm đã gây ra, nên được chấp nhận.

Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Trung T trong một thời gian nhất định để lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục để trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105 và Điều 106; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 4, Điều 8, Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Khoản 1, 2 Điều 1; khoản 2 Điều 2 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của chính phủ sửa đổi bổ sung một số điêu của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Khoản 24 Điều 1 của nghị định số 97/2017 NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013 NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hanh Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ các Điều 19 Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Trung T 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

4. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội-Dân tộc huyện B phối hợp với Công an huyện B chấp hành Quyết định này vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ