vanban.org

Quyết định 06/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp vắng mặt người bị đề nghị, báo cho biết có quyền khiếu nại quyết định. Thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Công an xã H có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định trong thời thời hạn 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đào Văn T"
  • Tòa quyết gì? Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
cTOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2026/QĐ - TANinh Bình, ngày 15 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Trần Trọng Ích

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/2026/QĐ-TA ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Đào Văn T, sinh năm 1998;

Căn cước công dân số: 036098009558, Ngày cấp: 20/01/1998;

Nơi cấp: Cục C về TTXH;

Nghề nghiệp: Tự do.

Nơi cư trú: Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Con ông Đào Văn N và bà Nguyễn Thị T1.

Tiền án: Không

Tiền sự:

- Ngày 17/12/2025: Công an xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Văn T bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong.

Vắng mặt tại phiên họp;

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Bùi Xuân T2 - Trưởng Công an xã H, tỉnh Ninh Bình

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên;

NHẬN THẤY:

Đào Văn T bị Công an xã H, tỉnh Ninh Bình đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì có các hành vi như sau:

Ngày 15/12/2025, Công an xã H phối hợp với Trạm y tế Hải Thịnh tổ chức xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Đào Văn T. Kết quả Đào Văn T dương tính với ma túy. Đào Văn T khai nhận: Ngày 12/12/2025 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở Thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình. Công an xã H đã phối hợp với Trạm y tế xã Hải Thịnh tiến hành thu giữ mẫu máu của Đào Văn T để phục vụ công tác giám định. Ngày 17/12/2025; Trạm y tế xã H kết luận Đào Văn T không nghiện ma túy. UBND xã H đã ra quyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 17/12/2025 áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Qua xác minh điều tra, Đào Văn T vẫn thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ với các đối tượng nghiện ma túy trong và ngoài địa bàn. Ngày 20/12/2025 T có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện. Ngày 21/12/2025; Trạm y tế xã H kết luận Đào Văn T nghiện ma túy. Tuy nhiên đến ngày 26/12/2025 T vẫn không đăng ký các biện pháp cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế theo quy định của pháp luật. Công an xã H lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T.

Ý kiến đề nghị của đại diện Công an xã H, tỉnh Ninh Bình: Đào Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền là dương tính với ma túy, Công an xã H đã yêu cầu T đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế nhưng T vẫn không thực hiện. Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý, đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đào Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng. Nơi Đào Văn T chấp hành là Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên họp hôm nay, vắng mặt Đào Văn T nhưng căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, lời khai nhận của Đào Văn T và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện rõ hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Đào Văn T đúng như nội dung Công an xã H đã nêu ở trên.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình: Áp dụng khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T thời hạn 18 - 24 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của Cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình.

XÉT THẤY:

Ngày 15/12/2025, Công an xã H phối hợp với trạm y tế xã H tiến hành test nhanh, kết quả Đào Văn T dương tính với ma túy. Đào Văn T khai nhận: Ngày 12/12/2025 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở thôn B, xã H, tỉnh Ninh Bình.

Ngày 17/12/2025; Trạm y tế xã H kết luận Đào Văn T không nghiện ma túy. UBND xã H đã áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Đào Văn T không thuộc phạm vi điều chỉnh của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256A Bộ luật hình sự. Vì vậy Công an xã H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Văn T bằng hình thức phạt tiền 1.250.000. T đã chấp hành xong.

Tuy nhiên T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/12/2025; Trạm y tế xã H kết luận Đào Văn T nghiện ma túy. Tuy nhiên đến ngày 26/12/2025 T vẫn không đăng ký các biện pháp cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế theo quy định của pháp luật. Công an xã H lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, hành vi của Đào Văn T có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét tính chất, mức độ, Trung quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị thì thấy: Đào Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý mà Đào Văn T đã thực hiện là nghiêm trọng. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm khánh kiệt về kinh tế, suy thoái nhân cách đạo đức của người sử dụng; ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như trộm cắp, cướp của, giết người; làm lan truyền các bệnh dịch nguy hiểm. Tuy nhiên trong quá trình lập hồ sơ thể hiện người bị đề nghị tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ căn cứ nêu trên, xét đề nghị của cơ quan đề nghị là Công an xã H, tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên tại phiên họp, việc đưa Đào Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhằm giúp Đào Văn T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian như đề nghị của Công an xã H là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cơ sở nơi Đào Văn T chấp hành là Cơ sở cai nghiện ma túy số 3 tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: Xã X, tỉnh Ninh Bình.

3. Tại phiên họp vắng mặt người bị đề nghị, báo cho biết có quyền khiếu nại quyết định. Thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Công an xã H có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định trong thời thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã H thi hành quyết định này.

Cỡ chữ