vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐTA-XLHC

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Đức T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh B. Địa chỉ: Tổ 13, phường Dân Chủ, TP B, tỉnh B.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày anh Nguyễn Đức T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có mặt có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định của Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Đức T - XLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Đức T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh B. Địa chỉ: Tổ 13, phường Dân Chủ, TP B, tỉnh B.
  • Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐTA-XLHCTP B, ngày 15 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nghiêm Hoài Anh

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Uyên

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 08/01/2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đức T. Sinh năm 1980. Nghề nghiệp: lao động tự do. Nơi cư trú: Tổ 11, phường Đ, TP B, tỉnh B. Con ông Nguyễn Quang Hợp và bà Phạm Thị Lọt.

Anh T có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B:

Bà Bùi Thị Bảo Chi - Chức vụ: chuyên viên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Đức T người nghiện ma túy từ năm 1997, chưa từng đi cai nghiện tự nguyện hay cai nghiện bắt buộc. Ngày 20/12/2024, qua xét nghiệm nước tiểu, Công an phường Đ xác định anh T dương tính với chất ma túy. Cùng ngày, Trạm y tế phường Đ xác nhận anh T là người nghiện chất ma túy. Tại bản tường trình và tại phiên họp, anh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là hít, tần suất sử dụng ít, bị bạn bè rủ rê. Anh T đã được Công an phường Đ thông báo và giải thích về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, tuy nhiên anh T không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 07/01/2025, Ủy ban nhân dân phường Đ lập hồ sơ đề nghị phòng lao động thương binh và xã hội xem xét áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Đức T.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có cùng quan điểm, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B quyết định đưa Nguyễn Đức T vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các ý kiến, trình bày tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B xét thấy: anh Nguyễn Đức T là người nghiện chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy. Do đó, có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với anh Nguyễn Đức T.

Tuy nhiên, anh Nguyễn Đức T chưa từng có tiền án, tiền sự, gia đình anh T có bố ông Nguyễn Quang Hợp và mẹ bà Phạm Thị Lọt đều là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, có xác nhận của Sơ lao động thương binh và xã hội. Bên cạnh đó, anh T đã từng có tiền sử viêm màng não. Do đó, cần có thời gian cai nghiện bắt buộc phù hợp để anh T phấn đấu trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 7, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020;

- Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021;

- Căn cứ vào Điều 17, 18, 20, 23, 24, 25, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân;

- Căn cứ Luật phòng chống ma túy số 73/2021/QH14 ngày 30/3/2021;

- Căn cứ Điều 41, 42, 43, Điều 54 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2012 của Chính phú quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Đức T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh B. Địa chỉ: Tổ 13, phường Dân Chủ, TP B, tỉnh B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày anh Nguyễn Đức T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có mặt có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định của Tòa án.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B và Công an thành phố B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ