vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 06/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công T.

Tuyên bố: Bà Nông Thị T1; sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng: Số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mất tích. 2. Lệ phí giải việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công T phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về dân sự 300.000đồng để sung ngân sách Nhà nước; được trừ vào số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Công T yêu cầu tuyên bố bà Nông Thị T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐST-DSTP. Lạng Sơn, ngày 06 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Hải Ninh

Thư ký phiên họp: Bà Vy Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số 99/2025/TLST-VDS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo quyết định mở phiên họp số 02/2025/QĐ-VDS ngày 18 tháng 4 năm 2025.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị T1, sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng: số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Năm 2014 ông Nguyễn Công T và bà Nông Thị T1 kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2014, quyển số 01/2013 cấp ngày 17/11/2014), sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Ông Nguyễn Công T và bà Nông Thị T1 có 02 con chung là Nguyễn Nhã U sinh ngày 06/02/2015 và Nguyễn Bình N sinh ngày 15/3/2017.

Ông Nguyễn Công T trình bày: Quá trình chung sống, ban đầu cuộc sống hạnh phúc, nhưng từ năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do khác biệt tính cách, thường xuyên mâu thuẫn cãi cọ với nhau, bất đồng quan điểm sống. Đến ngày 07/5/2019 bà Nông Thị T1 đã tự ý thu dọn tài sản tư trang cá nhân bỏ đi khỏi nơi cư trú, bỏ chồng con, không nói cho chồng con và những người thân tích biết là đi đâu, làm gì. Ông Nguyễn Công T đã hỏi thăm người thân, bạn bè của bà Nông Thị T1 để tìm kiếm bà Nông Thị T1, nhưng đến nay vẫn không biết được bà Nông Thị T1 đã đi đâu. Ngày 08/7/2021 ông Nguyễn Công T đã nộp đơn đến Công an phường C, thành phố L trình báo việc bà Nông Thị T1 đã mất tích và ngày 09/7/2021 Công an phường C xác nhận vào đơn với nội dung bà Nông Thị T1 có đăng ký tạm trú tại số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, từ năm 2019 đến ngày xác nhận bà Nông Thị T1 đã đi khỏi địa phương đi ở đâu làm gì không rõ. Ông Nguyễn Công T nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, yêu cầu tuyên bố bà Nông Thị T1 là mất tích để giải quyết việc ly hôn. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thụ lý, thu thập tài liệu chứng cứ, tiến hành giải quyết việc dân sự theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Đối với người yêu cầu đã thực hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định bà Nông Thị T1 đã biệt tích từ năm 2019 đến nay, nơi cư trú cuối cùng số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L; Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã tiến hành thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tính đến nay không có căn cứ xác thực bà Nông Thị T1 trở về. Vì vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Công T là có căn cứ, đề nghị chấp nhận.

Chi phí về nhắn tin, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, ông Nguyễn Công T phải chịu theo quy định.

Về lệ phí giải quyết yêu cầu về dân sự: Ông Nguyễn Công T phải chịu 300.000 đồng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Công T và bà Nông Thị T1 có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 11/2014, quyển số 01/2013 cấp ngày 17/11/2014 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú cuối cùng của bà Nông Thị T1 tại địa chỉ số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, nên việc ông Nguyễn Công T nộp đơn yêu cầu tuyên bố và bà Nông Thị T1 mất tích là việc dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo trình bày của ông Nguyễn Công T thì bà Nông Thị T1 đã bỏ nhà đi từ ngày 07/5/2019, nhưng không trình báo ngay chính quyền địa phương. Đến đầu tháng 7/2021 ông Nguyễn Công T mới viết đơn trình báo đến Công an phường C, thành phố L và ngày 09/7/2021 Công an phường C xác nhận vào Đơn trình báo nội dung: Bà Nông Thị T1 có đăng ký tạm trú tại số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, từ năm 2019 đến ngày xác nhận bà Nông Thị T1 đã đi khỏi địa phương đi đâu làm gì ở đâu không rõ. Sau khi thụ lý việc dân sự, ngày 02/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2025/QĐ-TA. Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã tiến hành các thủ tục đăng, phát thông tin yêu cầu tuyên bố bà Nông Thị T1 mất tích trên T2 thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn từ ngày 03/01/2025; trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn ngày 07/01/2025; trên Đ (kênh V) 03 lần phát sóng trong 03 ngày liên tiếp 14, 15, 16/01/2025; B1 (B2) trên 03 số báo 11 + 12, 13, 14 các ngày 05/02, 12/02, 14/02/2025. Đến nay đã hết hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát đầu tiên, nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Nông Thị T1 hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Kết quả xác minh tại Công an xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Công an phường C, Công an xã M và Công an xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nơi có bố mẹ đẻ và anh chị em ruột của bà Nông Thị T1 cư trú; xác minh với bà Nông Thị T3 là bác ruột của bà Nông Thị T1, người đã nuôi bà Nông Thị T1 từ nhỏ, nhưng bà Nông Thị T1 hiện không cư trú tại nơi ở của người thân thích và không ai có thông tin về việc bà Nông Thị T1 đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Như vậy, từ ngày 07/5/2019 bà Nông Thị T1 bỏ đi đến nay không có thông tin bà Nông Thị T1 trở về địa phương, không có tin tức xác thực là bà Nông Thị T1 còn sống hay đã chết. Do đó, đủ căn cứ xác định bà Nông Thị T1 đã biệt tích từ tháng 6 năm 2019, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích số 8, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vì vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Công T đề nghị tuyên bố bà Nông Thị T1 là mất tích có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Ông Nguyễn Công T trình bày không có và không có yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

Chi phí về nhắn tin, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ông Nguyễn Công T phải chịu số tiền 3.794.000 đồng theo quy định. Xác nhận ông Nguyễn Công T đã nộp đủ.

Về lệ phí giải quyết yêu cầu về dân sự: Ông Nguyễn Công T phải nộp tiền lệ phí giải việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 70 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 1 Điều 149; Điều 150; các Điều 371; 372; 387; 388; 389; 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ 1 Điều 35, Điều 36 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công T.

Tuyên bố: Bà Nông Thị T1; sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng: Số H, đường T, khối T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn mất tích. 2. Lệ phí giải việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công T phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về dân sự 300.000đồng để sung ngân sách Nhà nước; được trừ vào số tiền 300.000 đồng ông Nguyễn Công T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0000501 ngày 29/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận ông Nguyễn Công T đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ