vanban.org

Quyết định 06/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí C.

Tuyên bố chị Ly Thị C1, sinh năm 1997; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn D, xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn D, xã Đ, tỉnh T) mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí C được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Người yêu cầu anh Sùng Mí C, người bị yêu cầu chị Ly Thị C1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí C.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2025/QĐST-DSTuyên Quang, ngày 30 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-DS ngày 19/5/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 08/2025/QĐST-DS ngày 15/9/2025.

- Người yêu cầu: Anh Sùng Mí C, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn D, xã Đ, tỉnh T). Có mặt

- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Ly Thị C1, sinh năm 1997; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn D, xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn D, xã Đ, tỉnh T).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp anh Sùng Mí C trình bày: Anh C và chị Ly Thị C1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là UBND xã Đ, tỉnh Tuyên Quang). Vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được một con chung, đến tháng 10/2018 thì chị C1 tự ý bỏ nhà đi không nói cho gia đình biết. Từ khi chị C1 biệt tích, anh C và gia đình đã đi tìm kiếm chị C1 nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị Ly Thị C1. Vì vậy anh C yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ly Thị C1 mất tích để ổn định cuộc sống. Việc chị Ly Thị C1 biệt tích đã được cơ quan quản lý hộ khẩu Công an xã T, huyện Đ, tỉnh H xác nhận chị Ly Thị C1 đi khỏi nơi cư trú từ tháng 10/2018 cho đến nay chị C1 không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị Ly Thị C1.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy chị Ly Thị C1 quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí C, ra quyết định tuyên bố chị Ly Thị C1 mất tích. Về lệ phí, Sùng Mí C là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, Cng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Sùng Mí C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ly Thị C1 mất tích được Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.

Về nội dung việc dân sự: Anh Sùng Mí C và chị Ly Thị C1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là UBND xã Đ, tỉnh Tuyên Quang). Vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được một con chung, đến tháng 10/2018 thì chị C1 tự ý bỏ nhà đi không nói cho gia đình biết. Từ khi chị C1 biệt tích, anh C và gia đình đã báo cáo chính quyền địa phương và tìm kiếm nhiều lần nhưng không thấy, không ai có thông tin gì về chị C1 đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Việc chị C1 biệt tích đã được Công an xã T xác nhận chị C1 đi khỏi nơi cư trú từ năm 2016 cho đến nay chị C1 không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị C1. Vì vậy anh C yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ly Thị C1 mất tích để ổn định cuộc sống

Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của anh Sùng Mí C Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Ly Thị C1. Thông báo tìm kiếm chị Ly Thị C1 đã được Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị Ly Thị C1 trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 15 giờ 00 phút đến 16 giờ 00 phút các ngày 13, 14, 15/6/2025; Báo Công lý đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 43, 44 và 45 ra các ngày 28, 30/5 và 04/6/2025. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Ly Thị C1 còn sống hay đã chết. Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí C

Về phí nhắn tìm chị Ly Thị C1 đăng trên báo Công lý và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, anh Sùng Mí C phải chịu phí, anh C đã nộp đủ.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí C là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí C.

1. Tuyên bố chị Ly Thị C1, sinh năm 1997; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn D, xã T, huyện Đ, tỉnh H (nay là thôn D, xã Đ, tỉnh T) mất tích.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí C được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ